Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO TỒN, PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA, TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI CƠ TU VÀ NGHỆ THUẬT MÚA CƠ TU Ở TỈNH QUẢNG NAM 1. Khái niệm di sản văn hóa Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại” [22]. Di sản văn hóa theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại.
Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên [22]. Văn hóa, là một thuật ngữ rộng bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Đã có nhiều định nghĩa về văn hóa.
Từ điển Tiếng Việt cho rằng Văn hóa “Là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá trình lịch sử” [22]. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đưa ra quan điểm “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa”. Theo đó, quan điểm này hết sức coi trọng công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, coi đây là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa. Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể được hiểu nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm của mỗi quốc gia hay nhiều lĩnh vực nhiều khía cạnh.
Tại điều 2, Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO 2003 cho rằng: 10 Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là công cụ đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. Vì những mục đích của công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm và cá nhân, và về phát triển bền vững [38]. Như vậy, di sản phi vật thể bao gồm những thành tố cơ bản sau đây: - Các hình thức biểu diễn truyền khẩu bao gồm: các hình thức biểu diễn hoặc thể hiện bằng thơ ca, lịch sử, thần thoại, truyền thuyết và các dạng truyện kể khác có giá trị đối với cộng đồng văn hóa.
- Các hình thức biểu diễn nghệ thuật: bao gồm biểu diễn nghệ thuật trong lễ hội hoặc các nghi lễ của cộng đồng và cả các hình thức trình diễn khác như ngôn ngữ, cử chỉ âm nhạc, kịch, hát, múa… - Các tập quán xã hội, nghi thức và lễ hội: bao gồm các nghi thức liên quan đến vòng đời của con người như: sinh nở, cưới xin, ma chay, đi lại, di chuyển, các trò chơi và các môn thể thao; nghi lễ của các dòng họ, các tập quán sinh hoạt, nghệ thuật ẩm thực; các tập quán săn bắt, đánh bắt 11 cá và hái lượm; tập quán đặt tên theo họ cha hoặc họ mẹ, nghề sản xuất tơ lụa, may mặc, nhuộm vải và thiết kế họa tiết trên vải; nghề chạm khắc gỗ, nghề dệt và các nghệ thuật liên quan đến nghề nghiệp… - Kiến thức về thiên nhiên và cách ứng xử với thiên nhiên bao gồm: các quan niệm liên quan đến môi trường tự nhiên như thời gian, không gian, các hoạt động nông nghiệp và các kiến thức nghề nông; các kiến thức thực tiễn về môi trường sinh thái và cách ứng xử với thiên nhiên; y dược học và cách chữa bệnh; kiến thức về vũ trụ; tiên đoán về tương lai, tiên tri tử vi, bùa phép, bói toán và tôn giáo liên quan đến tự nhiên, các hiện tượng biển, hiện tượng núi lửa, các tập quán liên quan đến việc bảo tồn thiên nhiên; các tri thức về thiên văn khí tượng, tri thức về luyện kim, hệ thống đánh số và cách đếm, chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản, cách thức chế biến và bảo quản thức ăn, hiểu biết về thủ công. Với sự tổng hợp, khái quát quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về văn hóa, định nghĩa được mang tính phổ biến nhất được ghi tại điều 1 của Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2001 quy định: Di sản văn hóa: “Là sản phẩm văn hóa, tinh thần, vật chất của xã hội loài người và các di vật tiêu biểu, vật mẫu của giới tự nhiên có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [17, tr. Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2009 quy định: Di sản văn hóa vật thể: “Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc” [24, tr. 12 Di sản văn hóa phi vật thể: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [18, tr.
Một số khái niệm bảo tồn và phát huy 1. Khái niệm bảo tồn Theo Từ điển tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi” [46]. Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, không để thay đổi, bị biến hóa hay biến thái.
Như vậy trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biên”, “nâng cao” hay “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa” chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng bảo tồn. Tuy nhiên, đối tượng được bảo tồn (giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn: Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì hoài nghi hay bàn cãi. Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (có giá trị lâu dài) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Hiện nay có nhiều quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa khác nhau. Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung hai quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa. Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là vận dụng thành quả 13 khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng. Khi cần phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiểu quả các phương tiện kỹ thuật như: Đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian 3 chiều; chụp ảnh, băng hình video, xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể.
Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng di sản văn hóa vật thể. Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình, video, ảnh… Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng. Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn: Theo Gregory J.Ashworth: Bảo tồn nguyên vẹn đó là những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại. Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có thể hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị một cách thích hợp.
Và hơn nữa, những giá trị ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau [48, tr. Về mục đích: nguyên tắc tiến hành bảo tồn đơn giản, dễ hiểu và có 14 sự đòi hỏi về mặt đạo đức, mục đích cao nhất là bảo tồn toàn bộ những gì có thể bảo tồn được. Về nguồn lực: các nguồn di sản là căn cứ bất di bất dịch; các địa điểm di tích có một căn cứ lịch sử nhất định của nó, các sản phẩm được xác định và tạo ra trên cơ sở nguồn gốc của di sản (có ý nghĩa về lịch sử, vẻ đẹp kiến trúc…); về nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn có thể quyết định một cách khách quan thông qua sự đồng thuận của tập thể; tính chân thực của di sản là yếu tố quyết định giá trị.