Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội 1. Khái niệm lễ hội và lễ hội truyền thống 1. Khái niệm lễ hội Lễ hội là thuật ngữ rất quen thuộc với mỗi chúng ta, trên thế giới có rất nhiều lễ hội khác nhau, lễ hội của mỗi quốc gia lại có những nét độc đáo riêng, tạo nên những nét riêng biệt về văn hóa của quốc gia đó.
Mỗi quốc gia, mỗi địa phương lại có những lễ hội khác nhau, vì vậy có nhiều khái niệm khác nhau giải thích về thuật ngữ lễ hội. Hiện nay, giới nghiên cứu vẫn chưa nhất quán trong cách sắp đặt trật tự của cụm từ này, có người gọi là “Hội lễ” (Cao Xuân Phổ - Đinh Gia Khánh (1994)). Bùi Thiết (1993) cho rằng khi phần hội phong phú hơn thì gọi là “Hội lễ” khi phần lễ lấn át thì gọi là “Lễ hội”. Cách gọi “Lễ hội” về cơ bản đã đi vào đời sống văn hóa ở nước ta (Quy chế tổ chức lễ hội do Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành năm 2001 sử dụng cụm từ “Lễ hội”).
Ở Việt Nam, khái niệm Lễ hội xuất hiện sau năm 1954. Về tên gọi của lễ hội, xưa trong dân gian có từ “Đám”, khi mở hội làng người ta gọi là “Làng vào đám”. Những người tổ chức lễ hội được gọi là “Các ông đám”. Trong tiếng Việt “bình dân” từ “đám” dùng để chỉ sự tập hợp hay tụ hội như “đám đông” hay “đám bèo”.
Từ “đám” thường đi liền với một danh từ chỉ sự việc nào đó để chỉ người ta tụ tập để làm gì, việc “đám” là để chỉ sự tụ hội để thực thi một nghi lễ nào đó như là “đám cưới”; “đám ma”; “ đám giỗ”, chỉ một loại sự kiện có tính nghi lễ cụ thể. Hai từ “lễ” và “hội” đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục, chẳng hạn 9 như: Lễ Thành Hoàng, lễ gia tiên., cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng, Hội Lim, Hội Chọi trâu,. Thêm chữ “ Lễ” cho “hội”, thời nay mong muốn gắn hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau. Trước hết là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc và sau là thăm thú vui chơi ở nơi đông đúc, vui vẻ (hội).
Giới học thuật trong nước đã có nhiều cách trình bày khái niệm và định nghĩa lễ hội. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh" [19, tr. Theo TS Dương Văn Sáu, tác giả cuốn Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch thì định nghĩa: “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định, nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội” [41, tr.
Theo cuốn Quản lý lễ hội và sự kiện nhóm tác giả đã cho rằng: Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định [18, tr. 10 Theo tác giả Ngô Đức Thịnh: “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là tấm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc” [48, tr. Tác giả Lê Văn Kỳ đưa ra định nghĩa: “Hội lễ là một cuộc vui lớn của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín ngưỡng, thi thố tài năng, biểu dương sức mạnh, tái hiện cuộc sống con người trong thời kỳ lịch sử.
Nó là một loại hình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố văn hóa dân gian luôn luôn tương tác lẫn nhau” [27, tr. Từ những định nghĩa, quan niệm trên tôi cho rằng: Lễ hội là một thể thống nhất không thể tách rời, lễ hội là một trong những hoạt động: “Văn hóa cao”, “hoạt động văn hóa nổi trội” trong đời sống con người, hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới xử lý các mối quan hệ của chính cộng đồng đó. Hoạt động này diễn ra với những hình thức và cấp độ khác nhau, nhằm thỏa mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp người, thỏa mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống. Khái niệm lễ hội truyền thống Theo định nghĩa của UNESCO: Văn hóa truyền thống là các tập quán và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì được lưu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trọng đặc biệt (ngay cả trong trường hợp các tập quán và biểu tượng hình thành trong khoảng thời gian không lâu) [44, tr.
Lễ hội thuộc phạm trù của văn hóa, do vậy khái niệm lễ hội truyền thống có thể bao trùm cả những lễ hội cổ truyền đã có từ xa xưa và cả 11 những truyền thống lễ hội được xác lập mất chục năm trở lại đây như lễ hội kỷ niệm ngày quốc khánh, lễ hội làng Sen… Tuy nhiên ở nước ta, khái niệm lễ hội truyền thống được hiểu như lễ hội cổ truyền. Lễ hội cổ truyền (hay lễ hội dân gian cổ truyền) được sử dụng ở đây bao gồm những lễ hội đã được hình thành trong lịch sử từ xa xưa truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách một phong tục. Ví dụ những lễ hội thờ thành hoàng làng ở các làng quê Bắc Bộ, lễ cúng đình ở Nam Bộ, lễ bỏ mả ở Tây Nguyên, lễ mừng lúa mới ở nhiều tộc người ở miền núi. Khái niệm này cũng chỉ cả những lễ hội vượt ra khỏi khuôn khổ của một cộng đồng làng, ấp, buôn, bản như những lễ hội ở đền, chùa dân gian được phát triển trên quy mô vùng hay cả nước như lễ hội Chùa Hương, lễ hội núi Bà Đen, lễ hội Điện Hòn Chén, và cả những lễ hội có nguồn gốc dân gian nhưng đã phát triển yếu tố lịch sử rồi được công nhận một cách chính thống như những di tích lịch sử thờ anh hùng dân tộc như hội Đền Hùng, hội Hoa Lư [17, tr.
Lễ hội truyền thống Việt Nam xuất phát từ nền văn minh lúa nước với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và độc đáo. Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa mà nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp, vì vậy lễ hội truyền thống Việt Nam chủ yếu là lễ hội nông nghiệp. Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp. Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi thức hay nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “Tồng Ngồng” của người Tày, lễ tế thần nông, lễ hạ điền (Lễ xuống đồng của người Mường) mà bao gồm cả những lễ hội như săn chim, bắt cáo, đuổi hổ, hội đánh bắt cá, hội hái măng, hái nấm… Tất cả chúng đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì 12 chúng diễn ra trong không gian và thời gian thôn dã (mang tính chất chu kì).
Chủ thể của lễ hội này chủ yếu là nông dân, ngư dân, thợ thủ công sống ở vùng nông thôn. Lễ hội cổ truyền là sinh hoạt văn hóa điển hình của văn hóa làng, là điển hình của sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, là thành tố quan trọng tạo nên bản sắc. Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội truyền thống tùy theo cách tiếp cận theo khía cạnh nào, phương thức nào. Tuy nhiên, có thể hiểu: lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, có từ lâu đời, tồn tạo cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại, được hình thành trong hình thái văn hóa lịch sử riêng biệt, được truyền lại trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán.
Một quan điểm cũng được nhiều người đồng tình là những lễ hội dân gian được hình thành trước năm 1945 còn được gọi là lễ hội truyền thống. Khái niệm về bảo tồn và phát huy 1. Khái niệm về bảo tồn Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên: “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai” [28, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “Bảo tồn” được hiểu là sự giữ lại không để cho mất đi, là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo đúng dạng thức vốn có của nó, để nó không bị mai một thay đổi.
Nguyễn Như Ý cho rằng bảo tồn là: “Giữ nguyên trạng, không để mất đi” [56. Còn theo quan niệm của UNESCO trong phần giải thích thuật ngữ đã đưa ra giải thích về bảo tồn: Bảo tồn ở đây được hiểu là bao gồm các biện pháp nhằm đảm bảo tính trường tồn của các di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm 13 cả các biện pháp nhận dạng, lưu trữ, nghiên cứu bảo tồn, bảo vệ, thúc đẩy, củng cố, chuyển hóa, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức và không chính thức, cũng như là việc làm sống lại các giá trị khác nhau của di sản đó [53.