Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 9.02) của tác giả Nguyễn Thị Minh Hải, với đề tài "Bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang hiện nay", được hoàn thành năm 2023 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng giá trị truyền thống dân tộc là hệ giá trị được đúc kết qua thực tiễn lịch sử, phản ánh bản sắc và tạo sức đề kháng tinh thần của quốc gia trong hội nhập quốc tế. An Giang là địa bàn biên giới Tây Nam Bộ có lịch sử khai phá sớm, giữ vị trí cửa ngõ giao thương Đông – Tây thuộc vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long, đứng đầu về sản lượng lúa gạo và nuôi trồng thủy sản. Nơi đây là không gian cộng cư của bốn dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, hun đúc nên các giá trị đoàn kết, tương thân tương ái, cần cù, phóng khoáng và mềm dẻo trong ứng xử. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa đang dẫn đến hiện tượng phai nhạt giá trị truyền thống ở một bộ phận cư dân, nhất là giới trẻ, biểu hiện qua lối sống thực dụng, ích kỷ, sùng bái vật chất phương Tây, thờ ơ và xa rời các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống nhằm sàng lọc, bảo tồn các giá trị phù hợp, loại bỏ yếu tố lạc hậu và tiếp thu giá trị mới là một đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn địa phương.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc của cộng đồng các dân tộc tại tỉnh An Giang trong thời kỳ đổi mới và hội nhập; từ đó đề xuất phương hướng cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Xác định các giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang.
- Khảo sát thực trạng quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang; phân tích những khó khăn, trở ngại và nguyên nhân trong quá trình này.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc ở tỉnh An Giang hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang và quá trình bảo tồn, phát huy các giá trị đó trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi không gian: Địa bàn 11 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh An Giang.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng từ thời kỳ Đổi mới (năm 1986) đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về cơ sở hình thành và nội dung giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam. Về cơ sở hình thành, Nguyễn Tài Thư (1993) trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam phân tích sự phát triển giá trị gắn liền với quá trình lao động, cải tạo tự nhiên và dựng nước từ thời đại đồng thau, văn hóa Đông Sơn. Doãn Chính và Nguyễn Thế Nghĩa qua các công trình Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam – Từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Bước chuyển tư tưởng Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, và Lịch sử triết học – Triết học cổ đại đã hệ thống hóa các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa quy định bản sắc người Việt. Về nội dung giá trị, C. Mác và Ph. Ăngghen (Toàn tập) cung cấp phương pháp luận duy vật lịch sử về sản xuất vật chất và vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa. Trần Văn Giàu trong các tác phẩm tiêu biểu như Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1980), Chủ nghĩa yêu nước – nét đậm đà trong văn hóa Việt Nam, và Văn hóa Việt Nam – truyền thống và hiện đại đã xác lập bảng giá trị cốt lõi của người Việt với chủ nghĩa yêu nước đứng đầu. Hồ Chí Minh (Toàn tập, 15 tập) phát triển lý luận đại đoàn kết toàn dân tộc và chủ nghĩa yêu nước thành đường lối cách mạng. Bên cạnh đó là các nghiên cứu của Nguyễn Trọng Chuẩn (2002) trong Một số vấn đề Triết học – Con người – Xã hội, Đỗ Huy và Trường Lưu (1993) trong Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa Việt Nam, cùng Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002) về hệ giá trị trước bối cảnh toàn cầu hóa.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và giá trị truyền thống tại tỉnh An Giang. Về truyền thống đấu tranh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang (1999) biên soạn Lịch sử hình thành vùng đất An Giang (2 tập); Phan Văn Kiến (2009, 2011) và Phan Văn Kiến – Võ Thành Phương (2009) xuất bản Lịch sử địa phương An Giang; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2010) công bố Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang (3 tập); Tỉnh ủy An Giang (1987) với An Giang kháng chiến; Sơn Nam (1988) với Lịch sử An Giang; Đảng ủy – Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang (2001) với Lực lượng vũ trang nhân dân An Giang 30 năm kháng chiến: 1945 – 1975. Về văn hóa và con người địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2013) thực hiện bộ Địa chí An Giang; Nguyễn Hữu Hiệp (2010) xuất bản An Giang – Đôi nét văn hóa đặc trưng vùng đất bán sơn địa; Tỉnh ủy An Giang (2015) tổng kết qua công trình An Giang trên đường phát triển 1975 – 2015.
Nhóm thứ ba gồm các nghiên cứu về chủ trương, chính sách và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Luận án viện dẫn các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI, XII, XIII, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI. Cùng với đó là các nghiên cứu chuyên khảo của Ngô Đức Thịnh (Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập), Trung tâm Lý luận chính trị – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2015, Văn hóa với động lực của sự nghiệp đổi mới), và nhóm tác giả (1999) trong Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – Vai trò của nghiên cứu và giáo dục.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: phần lớn các công trình trước đây tập trung vào lý luận chung ở tầm quốc gia hoặc nghiên cứu lịch sử, văn hóa thuần túy tại địa phương mà chưa phân tích sâu các giải pháp thực tiễn gắn với bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập tại một địa bàn đặc thù như An Giang. Luận án kế thừa các tư liệu lịch sử và khung lý luận sẵn có để khảo sát thực chứng, đánh giá thực trạng và xây dựng các giải pháp có căn cứ cụ thể cho địa bàn nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng hướng tiếp cận kết hợp giữa phân tích triết học và điều tra xã hội học thực chứng.
Về cơ sở lý luận, đề tài dựa trên thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung khái niệm của luận án vận dụng quan niệm về giá trị từ góc độ triết học Mác – Lênin, kết hợp với các định nghĩa học thuật của Hữu Ngọc, Dương Phú Hiệp, Lê Hữu Tầng (1987), Trần Văn Giàu (1993), Trần Trọng Thủy (1993) và Phạm Minh Hạc (2001), xác định giá trị là ý nghĩa của các hiện tượng vật chất và tinh thần thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của con người và thúc đẩy xã hội tiến bộ. Khái niệm truyền thống được tiếp cận từ luận điểm của C. Mác trong tác phẩm Ngày mười tám tháng Sương mù của Louis Bonaparte, nhìn nhận truyền thống như hệ thống tư tưởng, tập quán được lưu truyền nhưng không cố định mà luôn biến đổi. Luận án cũng vận dụng khung phân tích 4 cuộc giao lưu và tiếp biến văn hóa lớn của dân tộc theo luận điểm của Nguyễn Thế Nghĩa (1999): tiếp xúc văn hóa Đông Nam Á và Phật giáo Ấn Độ; tiếp xúc văn hóa Trung Hoa (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đại thừa, Pháp gia); tiếp xúc văn hóa phương Tây thời cận - hiện đại; và tiếp xúc văn hóa thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.
Về phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tác giả sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, lịch sử và logic, so sánh và đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa triết học, giá trị học và tiếp cận triết học văn hóa.
Về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, luận án sử dụng kỹ thuật điều tra xã hội học bằng bảng hỏi với phương thức chọn mẫu ngẫu nhiên tại 11 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh An Giang. Quy mô mẫu được xác định theo công thức tính cỡ mẫu của Taro Yamane (1967):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
Trong đó:
- $n$: Số lượng mẫu cần khảo sát.
- $N$: Tổng dân số tỉnh An Giang (tính đến năm 2020 là 1.908.352 người theo niên giám thống kê).
- $e$: Sai số chấp nhận dự kiến, được tác giả chọn trong khoảng từ 5% đến 5,5%.
Từ công thức trên, số lượng mẫu khảo sát hợp lệ được xác định nằm trong khoảng từ 430 đến 499 mẫu.
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh; các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh An Giang; số liệu từ Cục Thống kê tỉnh An Giang năm 2020; các tư liệu lịch sử, địa chí địa phương và kết quả khảo sát thực địa bằng bảng hỏi của chính tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Lý luận chung về bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam
Chương 1 xây dựng khung lý luận nền tảng gồm ba nội dung lớn: cơ sở hình thành, khái niệm - nội dung, và quan điểm về bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống.
Tác giả phân tích điều kiện tự nhiên của Việt Nam: địa hình $3/4$ là đồi núi và trung du, $1/4$ là đồng bằng và ven biển; vị trí địa lý nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mạng lưới sông ngòi dày đặc, thường xuyên chịu lũ lụt, hạn hán. Hoàn cảnh đó đòi hỏi con người phải sớm liên kết trị thủy, khai phá đất đai, hình thành lối ứng xử mềm dẻo, trọng tình và tinh thần cố kết cộng đồng. Về mặt kinh tế - xã hội, nền văn minh nông nghiệp lúa nước cùng cơ cấu làng xã tự quản khép kín từ thời Văn Lang - Âu Lạc qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn đã định hình các phẩm chất cần cù, tương thân tương ái, trọng người già và tinh thần tự lực tự cường. Đặc biệt, lịch sử hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm (với 12 thế kỷ tiến hành các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước trước các thế lực phong kiến phương Bắc, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ) đã đưa chủ nghĩa yêu nước trở thành giá trị tối cao, hạt nhân chi phối các giá trị tinh thần khác.
Chương này cũng phân tích tiến trình tiếp biến văn hóa có chọn lọc của dân tộc qua việc Việt Nam hóa Nho giáo (tiếp thu Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng nhưng gạt bỏ sự cứng nhắc của chế độ tông pháp), bản địa hóa Đạo giáo (lối sống hòa hợp thiên nhiên, tinh thần lạc quan và tích hợp vào tín ngưỡng dân gian thờ Thánh, Mẫu), và Phật giáo hóa đời sống (từ bi, bác ái, nhập thế tích cực của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần). Tiếp đó, tác giả phân tích sự tiếp thu tinh hoa bình đẳng, tự do của tư tưởng khai sáng phương Tây (Bacon, Descartes, Rousseau, các bản Tuyên ngôn 1776 của Mỹ và 1789 của Pháp) và vai trò nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc định hướng giải phóng dân tộc và phát triển con người. Từ việc xác lập các khái niệm giá trị và truyền thống, chương 1 khẳng định bảo tồn không phải là giữ nguyên trạng thụ động mà là quá trình sàng lọc, kế thừa có phê phán, gắn liền với phát huy giá trị trong điều kiện đổi mới.
Chương 2. Bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 2 đi vào phân tích thực tế địa bàn tỉnh An Giang dựa trên các tài liệu thống kê và kết quả khảo sát bằng bảng hỏi.
Phần khái quát chỉ rõ đặc điểm tự nhiên bán sơn địa và vị trí địa kinh tế của tỉnh, cùng lịch sử khai hoang lập ấp với sự cộng cư của bốn dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa. Điều kiện này hình thành các sắc thái giá trị đặc thù: tinh thần đoàn kết dân tộc, tính cách bộc trực, chuộng sự thật thà, ghét thói giả dối, thái độ ứng xử phóng khoáng và tinh thần sáng tạo khắc phục khó khăn.
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu thống kê và kết quả khảo sát tiêu biểu phản ánh thực trạng:
| Nhóm dữ liệu / Chỉ tiêu |
Nội dung và số liệu trích xuất từ văn bản |
| Quy mô dân số và địa bàn (2020) |
Toàn tỉnh có 1.908.352 người (Bảng 2.1), phân bổ trên 11 đơn vị hành chính cấp huyện, mật độ dân số cao ở vùng đồng bằng lúa nước. |
| Cỡ mẫu khảo sát thực địa |
Thực hiện trên 430 – 499 mẫu ngẫu nhiên (tính theo công thức Yamane với sai số 5% – 5,5%). |
| Nhận thức về 5 giá trị truyền thống nổi bật |
Hình 2.1 và các bảng 2.2 – 2.5 ghi nhận 5 giá trị được đánh giá cao nhất: Yêu nước, Đoàn kết, Cần cù, Nhân ái, Tự lực tự cường. Sự đánh giá có khác biệt theo giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và nơi cư trú. |
| Đánh giá mức độ bảo tồn |
Các bảng 2.6 – 2.8 và Hình 2.3 phản ánh phần lớn người dân cho rằng giá trị truyền thống vẫn được giữ gìn ở mức độ nhất định, nhưng tồn tại sự suy giảm nhận thức về giá trị yêu nước và lao động ở một bộ phận giới trẻ. |
| Nguyên nhân và xu hướng biến đổi giá trị |
Hình 2.6 – 2.9 chỉ ra các nguyên nhân: tác động của kinh tế thị trường, giao lưu văn hóa quốc tế, sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội. |
| Nhận diện thói hư, tật xấu nảy sinh |
Hình 2.10 – 2.11 thống kê 5 biểu hiện tiêu cực nổi bật: lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền; thờ ơ, vô cảm; tệ nạn xã hội (cờ bạc, ma túy); mê tín dị đoan tại các lễ hội; và suy thoái đạo đức gia đình. |
Từ thực trạng trên, tác giả khái quát ba mâu thuẫn/vấn đề nảy sinh cơ bản:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống với hiện thực xã hội (mặt trái kinh tế thị trường, phân hóa giàu nghèo, tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai).
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn với trình độ nhận thức và khả năng vận dụng giá trị truyền thống còn hạn chế của một bộ phận cán bộ và người dân.
- Mâu thuẫn giữa yếu tố truyền thống và hiện đại trong đời sống văn hóa tinh thần tại địa phương (nguy cơ thương mại hóa lễ hội, xung đột chuẩn mực ứng xử giữa các thế hệ).
Chương 3. Quan điểm, phương hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang hiện nay
Chương 3 trình bày hệ thống định hướng và các giải pháp thực hiện trên cơ sở các chủ trương văn hóa của Đảng và kết quả khảo sát ý kiến người dân (thể hiện qua các biểu đồ từ Hình 3.1 đến Hình 3.5).
Tác giả xác định quan điểm chỉ đạo: bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer, giữ vững an ninh biên giới Tây Nam; kết hợp hài hòa giữa kế thừa truyền thống với tiếp thu văn hóa hiện đại; và coi người dân là chủ thể sáng tạo, gìn giữ văn hóa.
Năm nhóm giải pháp chủ yếu được luận án đề xuất bao gồm:
- Hoàn thiện chính sách, pháp luật: Xây dựng và thực thi các cơ chế, quy định địa phương nhằm bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội truyền thống; bố trí ngân sách hợp lý cho trùng tu di tích và bảo tồn bản sắc các dân tộc thiểu số.
- Đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền và giáo dục: Tăng cường tuyên truyền trực quan, triển lãm, cổ động (Bảng 3.1); đưa nội dung giáo dục lịch sử, văn hóa địa phương vào trường học các cấp; vận dụng phương pháp tuyên truyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lấy gương người tốt việc tốt để giáo dục thực tiễn, làm cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm.
- Củng cố thiết chế văn hóa và phát triển nguồn nhân lực: Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa từ cấp tỉnh đến cơ sở; đầu tư cơ sở vật chất cho nhà văn hóa, thư viện, khu vui chơi; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa có năng lực chuyên môn, hiểu biết phong tục tập quán đồng bào dân tộc thiểu số và có tâm huyết với nghề.
- Đấu tranh xử lý các hiện tượng tiêu cực: Ngăn chặn lối sống thực dụng, suy thoái đạo đức, mê tín dị đoan, thương mại hóa di tích và lễ hội dân gian; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo xâm phạm an ninh trật tự.
- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa: Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư đóng góp nguồn lực bảo tồn di tích; phát triển du lịch văn hóa – tâm linh bền vững gắn với sinh kế của đồng bào địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định ba đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Thứ nhất: Làm rõ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tiền đề tư tưởng hình thành, biến đổi các giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam tại địa bàn tỉnh An Giang – một không gian đa tộc người, đa tôn giáo thuộc vùng biên giới Tây Nam Bộ.
- Thứ hai: Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang từ năm 1986 đến nay thông qua việc kết hợp phân tích lý luận triết học với số liệu khảo sát xã hội học thực chứng (430 – 499 mẫu); chỉ ra những hạn chế, thách thức cùng ba mâu thuẫn xã hội cơ bản nảy sinh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và toàn cầu hóa.
- Thứ ba: Đề xuất hệ thống phương hướng và 5 nhóm giải pháp đồng bộ (pháp lý - chính sách; giáo dục - tuyên truyền; thiết chế - nhân lực; phòng chống tiêu cực; xã hội hóa văn hóa) nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Các kiến nghị chính sách tập trung vào việc lồng ghép nhiệm vụ bảo tồn văn hóa vào quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, chú trọng bảo tồn văn hóa của các dân tộc Chăm, Khmer, Hoa, và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt phạm vi, luận án giới hạn việc khảo sát thực địa trong phạm vi địa giới hành chính của tỉnh An Giang với cỡ mẫu từ 430 đến 499 người ở thời điểm nghiên cứu; do đó, các kết luận thực chứng chưa bao quát hết mức độ tương quan so sánh với các địa phương khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có cùng cơ cấu đa dân tộc (như Sóc Trăng, Trà Vinh hay Kiên Giang). Về mặt nội dung, nguồn tài liệu phân tích chủ yếu tiếp cận theo lăng kính triết học văn hóa và xã hội học đại cương, chưa đi sâu vào khía cạnh kinh tế học văn hóa hoặc đánh giá định lượng tác động của chuyển đổi số và truyền thông đa phương tiện đối với sự chuyển dịch giá trị của giới trẻ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh liên tỉnh vùng Tây Nam Bộ, nghiên cứu chuyên sâu các giải pháp số hóa di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào Khmer, Chăm, và đánh giá tác động của không gian mạng xã hội đối với sự biến đổi thang bậc giá trị truyền thống của cư dân biên giới.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều đối tượng:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban Dân tộc tỉnh An Giang trong việc xây dựng nghị quyết, quy hoạch bảo tồn văn hóa và chính sách dân tộc.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), Văn hóa học, Hồ Chí Minh học và Xây dựng Đảng; cung cấp cách thức vận dụng phương pháp luận triết học mác-xít kết hợp công cụ xã hội học thực nghiệm (công thức Yamane) vào nghiên cứu một vấn đề văn hóa địa phương.
- Cơ sở giáo dục tại địa phương: Phục vụ trực tiếp việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy phần Lịch sử địa phương, Giáo dục công dân tại các trường THPT, các trường Trung cấp, Cao đẳng và Đại học trên địa bàn tỉnh An Giang.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng công thức nào để xác định cỡ mẫu điều tra xã hội học và cỡ mẫu thực tế là bao nhiêu?
Luận án sử dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên của Taro Yamane (1967): $n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$. Với tổng dân số tỉnh An Giang năm 2020 là $N = 1.908.352$ người và mức sai số cho phép $e$ được xác định từ $5%$ đến $5{,}5%$, cỡ mẫu khảo sát thực tế của luận án được tính toán trong khoảng từ 430 đến 499 mẫu.
2. Bốn dân tộc chính cùng cộng cư tạo nên đặc trưng giá trị văn hóa tại An Giang là những dân tộc nào?
Bốn dân tộc cùng sinh sống lâu đời trên vùng đất An Giang được nêu rõ trong văn bản là người Kinh, người Khmer, người Chăm và người Hoa. Sự cộng cư này hình thành nên tinh thần đoàn kết keo sơn, tính tương trợ, khoan dung văn hóa và sự giao thoa phong phú về phong tục, tín ngưỡng, lễ hội.
3. Bốn cuộc giao lưu và tiếp biến văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam được tác giả luận án trình bày gồm những giai đoạn nào?
Theo hệ thống hóa từ nghiên cứu của Nguyễn Thế Nghĩa (1999) được luận án trích dẫn, 4 cuộc giao lưu và tiếp biến văn hóa gồm: lần thứ nhất với văn hóa Đông Nam Á (chủ yếu qua Phật giáo Ấn Độ); lần thứ hai với văn hóa Trung Hoa (qua Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đại thừa, Pháp gia); lần thứ ba với văn hóa phương Tây (qua thời kỳ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ); và lần thứ tư với nền văn hóa thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
4. Ba vấn đề mâu thuẫn chủ yếu nảy sinh trong bảo tồn giá trị truyền thống tại An Giang được Chương 2 chỉ ra là gì?
Ba vấn đề nảy sinh gồm: mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống với thực tế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa; mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn với trình độ nhận thức và năng lực vận dụng còn hạn chế của cán bộ, người dân; và mâu thuẫn giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại trong nếp sống, chuẩn mực ứng xử xã hội.
5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp chủ yếu ở Chương 3?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể: (1) Hoàn thiện chính sách, pháp luật tạo nền tảng pháp lý; (2) Tăng cường thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chủ thể; (3) Xây dựng thiết chế văn hóa và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa; (4) Kiên quyết đấu tranh, xử lý các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội; (5) Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa văn hóa.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Hải đã vận dụng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu quá trình bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc tại địa bàn tỉnh An Giang từ năm 1986 đến nay. Bằng việc kết hợp nghiên cứu lý luận với điều tra xã hội học thực chứng trên cỡ mẫu 430 – 499 người, công trình đã làm rõ đặc điểm hệ giá trị của cư dân vùng đất bán sơn địa đa dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, đồng thời chỉ ra ba mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình chuyển đổi xã hội. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quản lý văn hóa, xây dựng chính sách phát triển bền vững cho tỉnh An Giang trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.