Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trong những năm gần đây, nghề và làng nghề truyền thống được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đi sâu và đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Để phục vụ tốt cho việc triển khai đề tài của mình, tác giả đã tiếp cận và nghiên cứu một số khái niệm như: khái niệm nghề truyền thống, làng nghề truyền thống, khái niệm bảo tồn và phát huy. Nghề truyền thống “Nghề”, theo Từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội” [48, 856].
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế quốc dân thì“nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kĩ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định” [9, 101]. Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu rằng, nghề là một lĩnh vực lao động, mà trong đó nhờ được đào tạo, con người tích lũy được kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, trình độ để tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc sản phẩm tinh thần, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội ở mọi thời đại. “Nghề truyền thống”, theo Thông tư 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền” [7, 1]. Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí: nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm công nhận; nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân 17 tộc và nghề phải gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề như nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ… Nghề truyền thống theo tác giả Bùi Văn Vượng là những nghề “đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta được sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề; có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề; kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất; sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa là hang hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam và là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể về kinh tế vào ngân sách Nhà Nước” [72, 12-13].
Như vậy, nghề truyền thống là những nghề được hình thành, tồn tại lâu đời trong lịch sử và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ mai một, được sản xuất tập trung tại một vùng hay làng nào đó. Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hóa, vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Làng nghề truyền thống Làng, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt là “khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến” [48, 685].
Làng là một tế bào của xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất. Sự xuất hiện của các nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghệ phụ, chủ yếu được nông dân tiến hành trong lúc nông nhàn. Về sau, do quá trình phân công lao động, các ngành nghề thủ công tách dần khỏi nông 18 nghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, khi đó người thợ thủ công có thể không còn sản xuất nông nghiệp nhưng họ vẫn gắn chặt với làng quê mình.
Khi nghề thủ công phát triển, số người chuyên làm nghề thủ công và sống được bằng nghề này tăng lên, điều nay diễn ra ngay trong các làng quê và đó là cơ sở cho sự tồn tại của các làng nghề ở nông thôn. Làng nghề, theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [7, 1]. Để đạt công nhận làng nghề thì theo Thông tư 116 thì phải đạt 03 tiêu chí sau: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong nghiên cứu “Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn ở Việt Nam” năm 2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã xác định làng nghề dựa theo 2 tiêu chí: Có trên 20% số hộ trong làng tham gia sản xuất thủ công hoặc chính quyền xã công nhận nghề thủ công đó có ý nghĩa quan trọng đối với làng.
Các tiêu chí trên chỉ có tính chất tương đối vì với các nghề khác nhau tỷ lệ trên ở các làng nghề cũng khác nhau mặt khác số lượng lao động làm nghề cũng có sự biến động thường xuyên. Làng nghề có thể là làng nghề mới ví dụ như làng nghề làm mành trúc ở xã Tân Thông Hội, làng nghề sinh vật cảnh xã Trung An – huyện Củ Chi. 19 Làng nghề có thể là làng nghề truyền thống như làng gốm Bát Tràng, làng gốm Bàu Trúc… có thời gian tồn tại hàng trăm năm. Như vậy khái niệm làng nghề có thể hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề không phải là nông nghiệp nhưng lại chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông.
Văn hóa làng nghề, căn cứ vào những nghiên cứu của các nhà khoa học, qua tham khảo nguồn tài liệu của các học giả, khái niệm về văn hóa làng nghề có thể hiểu rằng đó là một dạng đặc thù của văn hóa làng nói chung với việc sản xuất, sinh sống bằng một nghề hay một số nghề thủ công nghiệp (không tính đến nghề nông). Tính đặc thù của văn hóa làng nghề là đặc trưng của việc làm nghề, sinh sống bằng nghề ghi đậm dấu ấn trong văn hóa của làng nghề, các làng thuần nông không có sản phẩm riêng biệt để tạo nên tính văn hóa đặc thù. Về Làng nghề truyền thống, theo Thông tư 116 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” [7, 1]. Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định.
Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn (1), (2) của tiêu chí công nhận làng nghề nêu trên nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định thì cũng được công nhận là Làng nghề truyền thống. Các làng nghề truyền thống còn tồn tại và phát triển đến hiện nay như làng muối Lý Nhơn (Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh), làng chiếu cói Định Yên (Đồng Tháp), làng lụa Tân Châu (An Giang)… Như vậy, làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi hội tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời theo kiểu cha truyền con nối, giữa họ có sự liên 20 kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc. Văn hóa làng nghề truyền thống, một số tác giả trong và ngoài nước đưa ra khái niệm văn hóa làng nghề truyền thống, đó là văn hóa làng nghề truyền thống là văn hóa của những làng có nghề truyền thống được quy định bởi việc sản xuất, buôn bán, sinh sống bằng một nghề thủ công truyền thống và được lưu truyền đến ngày nay.
Với quan niệm đó, văn hóa làng nghề truyền thống các yếu tố sản xuất, buôn bán, sinh sống, gồm văn hóa vật chất và tinh thần của người dân làng nghề, bằng nghề truyền thống của làng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các yếu tố trên là đặc trưng cơ bản làm nên văn hóa mỗi làng nghề truyền thống. Bảo tồn và phát huy Bảo tồn và phát huy là hai việc khác nhau, hai công đoạn khác nhau trong lĩnh vực văn hóa nói chung nhưng luôn gắn kết, song hành cũng như tương tác, bổ trợ cho nhau đối với việc gìn giữ, bảo lưu, quảng bá những giá trị cốt lõi của các làng nghề truyền thống đặt trong mục tiêu chung của phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Bảo tồn không thể tách rời đổi mới và phát triển.
Bảo tồn phải song hành với phát huy, thông qua phát huy, các giá trị của làng nghề sẽ được biểu hiện. Qua đó, xác định những yếu tố còn phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn, cũng như hạn chế hoặc loại bỏ những yếu tố lạc hậu. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng, không thể mất đi” [48, 80]; phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt lan rộng tác dụng và tiếp tục phát triển thêm” [48, 953]. Như vậy, bảo tồn làng nghề là không để cho làng nghề bị mai một và mất nghề.
Bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề chính là giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống đã được xây dựng, trao truyền qua các thế hệ người dân nơi đây. Đối với làng nghề, cần đặt hoạt động bảo tồn trong mối quan hệ với phát huy, tức là bảo tồn giá trị làng nghề phải đồng hành với việc sử dụng, 21 phát huy giá trị của nó trong đời sống.