Chương 1: Tổng quan về pháp luật bảo tồn và khai thác giá trị di sản thế giới tại Việt Nam Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo tồn và khai thác giá trị di sản thế giới tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC GIÁ TRỊ DI SẢN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM DSTG là tài sản quý báu không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Do đó, việc bảo tồn và khai thác giá trị DSTG một cách hợp lý cần được thúc đẩy để góp phần trong sự phát triển của nhân loại. Khái quát về di sản thế giới và vấn đề bảo tồn, khai thác giá trị di sản thế giới 1.
Khái quát về di sản thế giới 1. Khái niệm di sản thế giới DSTG được ví von như “món quà từ quá khứ đến tương lai”.4 UNESCO đã mô tả di sản “là những gì chúng ta kế thừa từ quá khứ, những gì đang hiện hữu trong đời sống của chúng ta và là những gì chúng ta truyền lại cho thế hệ mai sau”.5 Điều làm cho DSTG trở nên đặc biệt là DSTG thuộc về tất cả các dân tộc trên thế giới, bất kể di sản đó ở đâu.6 Theo Từ điển Tiếng Việt, “di sản” được định nghĩa đơn giản là “tài sản của người chết để lại, cái của thời trước để lại”.7 Còn “thế giới” được định nghĩa là: “Trái Đất, là nơi con người sinh sống, thường dùng để chỉ toàn thể loài người nói chung đang sinh sống trên Trái Đất”.8 Từ đây, có thể hiểu nôm na: “DSTG là tài sản do thế hệ trước để lại cho toàn thể loài người”. Định nghĩa DSTG sẽ chi tiết, cụ thể, rõ ràng hơn nếu xét dưới khía cạnh pháp lý. Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP giải thích DSTG như sau: “Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (sau đây gọi chung là DSTG) là di tích lịch sử – văn hóa9, danh lam thắng cảnh10 tiêu biểu của Việt Nam có Giá trị Nổi bật Toàn cầu về văn hóa và thiên nhiên, được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG”.
4 “Heritage – a gift from the past to the future”, https://www.mo/rc/viewer/20038/1338, truy cập ngày 15/4/2022. 5 Vụ Pháp chế, “Công ước năm 1972 về bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới”, https://cspl- tnmt.vn/pl-quoc-te/gioi-thieu-cac-dieu-uoc-quoc-te-tn-mt/cong-uoc-nam-1972-ve-bao-ve-cac-di- san-van-hoa-va-thien-nhie.html, truy cập ngày 25/4/2022. 6 World Heritage Centre, “World Heritage Information Kit”, https://whc.org/en/activities/567/, truy cập ngày 21/3/2022. 7 Hoàng Phê, Trung tâm Từ điển học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.
8 Hoàng Phê, tlđd(7), tr. 9 Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học (khoản 3 Điều 4 Luật DSVH 2001). 8 Để đảm bảo tối đa việc nhận diện và bảo tồn các DSTG, đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; năm 1972, các Quốc gia thành viên của UNESCO đã thông qua Công ước Heritage tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO ở Paris vào ngày 16 tháng 11 năm 1972. Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận trách nhiệm chính của mình để đảm bảo việc xác định, bảo vệ, bảo tồn và chuyển giao các DSTG của đất nước cho các thế hệ tương lai.
Tính đến tháng 3 năm 2020, trên toàn thế giới có 193 quốc gia tham gia Công ước, 1.121 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thuộc 167 quốc gia được UNESCO ghi danh, bao gồm 869 di sản văn hóa, 213 di sản thiên nhiên và 39 di sản hỗn hợp.11 Việt Nam chính thức phê chuẩn tham gia Công ước Heritage vào ngày 19/10/1987.12 Theo Công ước Heritage, DSTG là Di sản văn hóa hoặc Di sản tự nhiên hoặc Di sản hỗn hợp của quốc gia thành viên Công ước có Giá trị Nổi bật Toàn cầu về văn hóa hoặc thiên nhiên, được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG. Từ việc đưa ra các khái niệm và đối chiếu các khái niệm với nhau cho thấy cách hiểu về DSTG trong Công ước Heritage và pháp luật Việt Nam có một số điểm tương đồng. Tuy nhiên, Công ước Heritage vẫn có cái nhìn cụ thể hơn khi định nghĩa về DSTG. Bởi vì, trong khi Nghị định số 109/2017/NĐ-CP định nghĩa DSTG là “di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh có Giá trị Nổi bật Toàn cầu về văn hóa và thiên nhiên” thì Công ước Heritage lại có cái nhìn cụ thể, rõ ràng hơn khi quy định DSTG là Di sản văn hoá hoặc Di sản tự nhiên hoặc Di sản hỗn hợp.
Cách hiểu về di sản văn hóa ở Công ước và pháp luật Việt Nam là khác nhau. Mặc dù, suy cho cùng, DSTG trong định nghĩa của Công ước chính là các di sản vật thể, không phải là di sản văn hóa phi vật thể. Tóm lại, có thể hiểu: “DSTG là sản phẩm vật chất về văn hóa hoặc tự nhiên hoặc mang cả đặc trưng về văn hóa và tự nhiên, có Giá trị Nổi bật Toàn cầu, được UNESCO công nhận là DSTG và ghi vào Danh sách DSTG”. Phân loại di sản thế giới 10 Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học (khoản 4 Điều 4 Luật DSVH 2001).
11 Nguyễn Viết Cường, “Thực tiễn quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam theo Công ước DSTG”, https://vhnt.vn/thuc-tien-quan-ly-di-san-van-hoa-va-thien-nhien-the-gioi-o-viet-nam-theo-cong- uoc-di-san-the-gioi/, truy cập ngày 07/6/2022. 12 Đỗ Vũ, “Tìm hiểu Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới”, http://thegioidisan.vn/vi/tim- hieu-cong-uoc-bao-ve-di-san-van-hoa-va-thien-nhien-the-gioi.html, truy cập ngày 15/4/2022. 9 Công ước Heritage chia DSTG thành ba loại là: Di sản văn hóa, Di sản tự nhiên và Di sản hỗn hợp. Theo đó, Điều 1 Công ước Heritage định nghĩa Di sản văn hóa bao gồm: (i) Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học; (ii) Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan; (ii) Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.
Với Di sản tự nhiên, Điều 2 Công ước Heritage định nghĩa bao gồm: (i) Các di tích tự nhiên được tạo thành bởi những cấu trúc hình thể và sinh vật học hoặc bởi các nhóm cấu trúc như vậy, có một giá trị đặc biệt về phương diện thẩm mỹ hoặc khoa học; (ii) Các cấu trúc địa chất học và địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới đã được xác định là nơi cư trú của các giống động vật và thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện khoa học bảo tồn; (iii) Các cảnh vật tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới đã được xác định cụ thể, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên. Loại thứ ba, các di sản sẽ được xem là di sản văn hoá và thiên nhiên hỗn hợp nếu chúng đáp ứng một phần hay toàn bộ các định nghĩa của cả di sản văn hoá và thiên nhiên được đưa ra trong các Điều 1 và 2 của Công ước Heritage (Điều 46 Hướng dẫn thực hiện Công ước Heritage). Pháp luật Việt Nam cũng chia DSTG thành ba loại như Công ước Heritage nhưng với cách hiểu khác hơn. Cụ thể, DSTG được chia thành: Di sản văn hóa thế giới, Di sản thiên nhiên thế giới và Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới hỗn hợp.
Theo đó, Di sản văn hóa thế giới là di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam có Giá trị Nổi bật Toàn cầu về văn hóa được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP). Loại thứ hai, Di sản thiên nhiên thế giới là di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam có Giá trị Nổi bật Toàn cầu về thiên nhiên được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG (khoản 3 Điều 3 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP). Cuối cùng là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới hỗn hợp, được định nghĩa tại khoản 4 Điều 10 3 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP là di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí của cả Di sản văn hóa thế giới và Di sản thiên nhiên thế giới, được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG. Với tiêu chí phân loại theo hình thức thể hiện cụ thể, Hướng dẫn thực hiện Công ước Heritage chia DSTG thành bốn loại.
- Các Cảnh quan Văn hóa: là những di sản văn hóa và thể hiện “các sản phẩm sáng tạo hỗn hợp của con người và thiên nhiên” như đã nêu trong Điều 1 của Công ước Heritage (Điều 6 Phụ lục 3 Hướng dẫn đề cử các loại di sản cụ thể vào danh sách DSTG). - Các Đô thị và Trung tâm Đô thị Lịch sử. Để được ghi danh là DSTG với tư cách là Đô thị và Trung tâm Đô thị Lịch sử, các nhóm công trình đô thị cần đáp ứng một trong các tiêu chí như: (i) Các đô thị không còn người cư trú nhưng vẫn giữ được những bằng chứng khảo cổ của quá khứ; (ii) Các đô thị lịch sử vẫn còn người cư trú và bản chất chúng vẫn phát triển và sẽ tiếp tục phát triển dưới tác động của những thay đổi về kinh tế – xã hội và văn hóa; (iii) Các đô thị mới của thế kỷ 20, tuy cách tổ chức đô thị của chúng có thể dễ dàng nhận thấy còn tính xác thực thì không có gì phải bàn cãi, tương lai của những đô thị này vẫn không rõ ràng bởi sự phát triển phần lớn là không kiểm soát được (Điều 14 Phụ lục 3 Hướng dẫn đề cử các loại di sản cụ thể vào danh sách DSTG.) - Các di sản Kênh.