Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tính đến thời điểm thực hiện đề tài (năm 2022), Việt Nam có 08 di sản được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thế giới (DSTG) trên tổng số 193 quốc gia thành viên tham gia Công ước về việc Bảo vệ Di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới (Công ước Heritage). Các di sản này mang Giá trị Nổi bật Toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ truyền thống văn hóa, bảo vệ đa dạng sinh học và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của thiên tai, biến đổi khí hậu cùng các hoạt động nhân sinh như khai thác du lịch quá tải, xây dựng công trình trái phép và phá rừng vùng đệm, các DSTG tại Việt Nam đang đứng trước nhiều nguy cơ xâm hại nghiêm trọng.
Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo tồn và khai thác DSTG tại Việt Nam hiện chủ yếu dựa trên Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị định số 109/2017/NĐ-CP. Mặc dù Nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn, hệ thống quy định hiện hành vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống, thiếu tính đồng nhất và chưa bắt kịp thực tiễn quản lý. Đa phần các công trình khoa học trước đây mới chỉ tiếp cận di sản dưới góc độ quản lý nhà nước hoặc bảo tồn di sản văn hóa nói chung, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và khai thác giá trị DSTG dưới lăng kính pháp luật môi trường. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về bảo tồn và khai thác giá trị Di sản thế giới tại Việt Nam" có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các khái niệm cơ bản, đặc điểm và nguyên tắc pháp lý điều chỉnh việc bảo tồn và khai thác giá trị DSTG.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về phân định khu vực bảo vệ, trách nhiệm quản lý, cơ chế tài chính và chế tài xử lý vi phạm trong bảo tồn và khai thác DSTG.
- Chỉ ra những vướng mắc, bất cập và xung đột pháp lý từ thực tiễn áp dụng tại 08 khu di sản ở Việt Nam.
- Đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong công tác quản lý di sản.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật môi trường và pháp luật di sản văn hóa liên quan đến bảo tồn, khai thác giá trị DSTG, cùng thực tiễn áp dụng các quy định này tại Việt Nam. Về phạm vi không gian, đề tài giới hạn nghiên cứu các di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam, không đi sâu vào di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu thế giới. Về phạm vi thời gian, tác giả tập trung khảo cứu các văn bản pháp luật từ Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nghị định số 109/2017/NĐ-CP và các văn bản liên quan đến thời điểm tháng 6 năm 2022.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các chuẩn mực quốc tế và hệ thống văn bản pháp quy trong nước:
- Khung pháp lý quốc tế: Công ước Heritage năm 1972 (Việt Nam phê chuẩn ngày 19/10/1987); Hướng dẫn thực hiện Công ước Heritage; Hiến chương Venice (1964) về bảo vệ và trùng tu di tích; Hiến chương Burra (1979) của ICOMOS Australia; các tài liệu hướng dẫn quản lý rủi ro và biến đổi khí hậu của ICCROM, IUCN.
- Khung pháp lý trong nước: Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật Đầu tư công năm 2019; Luật Đầu tư năm 2020; Nghị định số 109/2017/NĐ-CP quy định về bảo vệ và quản lý Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam; Nghị định số 38/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo; Nghị định số 166/2018/NĐ-CP quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể theo từng chương:
- Phương pháp phân tích - diễn giải - tổng hợp: Áp dụng tại Chương 1 để làm rõ khái niệm, phân loại, đặc điểm của DSTG; phân tích các yếu tố tự nhiên, xã hội và pháp lý tác động đến công tác bảo tồn, từ đó khái quát hóa sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (trước 1986, giai đoạn 1986 - 2001, và từ 2001 đến nay); so sánh sự tương thích giữa pháp luật quốc gia với các điều khoản của Công ước Heritage 1972 và Hướng dẫn thực hiện Công ước.
- Phương pháp phân tích - chứng minh: Áp dụng tại Chương 2 để mổ xẻ từng điều khoản của Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 109/2017/NĐ-CP, Nghị định số 38/2021/NĐ-CP; dùng các vụ việc xâm phạm thực tế tại các khu di sản để chứng minh cho những lỗ hổng và mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật hiện hành.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, số liệu công bố từ UNESCO, các công trình luận án tiến sĩ (Nguyễn Viết Cường, 2021; Trịnh Ngọc Chung, 2016), nghiên cứu chuyên khảo (Phan Thị Diễm Hương, 2020; Hoàng Thị Diệu Thúy, 2010), cùng tư liệu thực tế và báo cáo của các Ban Quản lý, Trung tâm Bảo tồn di sản tại các địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về pháp luật bảo tồn và khai thác giá trị di sản thế giới tại Việt Nam
Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận và lịch sử hình thành pháp luật di sản:
- Khái niệm và phân loại: Đối chiếu định nghĩa DSTG tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP với Công ước Heritage 1972. Tác giả chỉ rõ trong khi Công ước Heritage chia rõ thành Di sản văn hóa, Di sản tự nhiên và Di sản hỗn hợp, pháp luật Việt Nam định nghĩa DSTG thông qua khái niệm "di tích lịch sử - văn hóa" và "danh lam thắng cảnh tiêu biểu". Theo Hướng dẫn thực hiện Công ước Heritage, di sản còn được phân theo hình thức thể hiện: Cảnh quan Văn hóa, Đô thị và Trung tâm Đô thị Lịch sử, Di sản Kênh, Di sản Tuyến đường.
- Đặc điểm của DSTG: Mang Giá trị Nổi bật Toàn cầu (đáp ứng Bộ 10 tiêu chí và điều kiện tính toàn vẹn, tính xác thực theo Điều 77, 78 Hướng dẫn Công ước); chịu sự tác động song song của tự nhiên và con người; mang tính lịch sử sâu sắc; có tính quốc tế và quy trình công nhận nghiêm ngặt.
- Khái niệm bảo tồn và khai thác: Phân biệt "bảo tồn" theo Hiến chương Venice, Hiến chương Burra và ICCROM (kéo dài tuổi thọ di sản, duy trì tính nguyên gốc, không đóng băng di sản) với "khai thác giá trị" (hoạt động phát hiện, sử dụng các lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội mà di sản mang lại).
- Các yếu tố tác động: Tác động của thiên tai, thời tiết; yếu tố pháp lý và đường lối của Nhà nước; áp lực phát triển du lịch thương mại hóa làm biến dạng giá trị cốt lõi của di sản.
Để phản ánh bức tranh thực tiễn, tác giả tổng hợp tình trạng bảo tồn và khai thác tại các khu DSTG của Việt Nam:
| Tên Di sản Thế giới |
Thành tựu bảo tồn / Khai thác tiêu biểu |
Tồn tại, bất cập và nguy cơ thực tế |
| Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long |
2018-2019 thu hút 120.000 lượt học sinh tham gia giáo dục di sản; ứng dụng công nghệ đồ họa 3D phục dựng kiến trúc. |
Sau 11 năm mới thực hiện được 7/8 cam kết với UNESCO; mới bàn giao 91% diện tích (16,7 ha / 18,353 ha); vướng mắc bàn giao Bảo tàng Lịch sử quân sự và cây xăng Nguyễn Tri Phương. |
| Đô thị cổ Hội An |
Hợp tác quốc tế với Nhật Bản; triển khai số hóa 3D phục vụ tu bổ di tích Chùa Cầu (Lai Viễn Kiều) tháng 6/2022. |
Áp lực quá tải du lịch lên vùng lõi lớn nhất cả nước, nguy cơ tự hủy hoại cấu trúc đô thị cổ. |
| Vịnh Hạ Long |
Mời chuyên gia nước ngoài đánh giá sức tải môi trường để phục vụ bảo tồn bền vững. |
5 tuyến đón 30.000 khách/ngày nhưng tập trung 25.000 khách vào tuyến 1, 2, 5; quá tải cục bộ tại Động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ đạt 2.000 - 3.000 khách/giờ vào mùa hè. |
| Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng |
Hợp tác bảo tồn xuyên biên giới với Vườn quốc gia Hin-nam-nô (Lào) theo Quyết định 43 COM 7B.12. |
Buông lỏng quản lý khiến rừng vùng đệm (huyện Minh Hóa, Quảng Bình) bị lâm tặc tàn phá nghiêm trọng năm 2020 dù có nhiều trạm kiểm lâm chốt chặn. |
| Khu di tích Mỹ Sơn |
Hợp tác quốc tế với Ấn Độ trong công tác trùng tu đền tháp Chăm. |
Tháp F1 xuống cấp nghiêm trọng, nguy cơ sụp đổ do thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa khai quật khảo cổ và trùng tu. |
| Thành nhà Hồ |
Triển khai các đợt gia cố, bảo quản tường thành đá. |
Tường đá phía Bắc sạt lở do mưa bão; kỹ thuật trùng tu cũ chắp vá khiến đá mới và cũ không ăn khớp, tiếp tục sạt lở. |
| Quần thể danh thắng Tràng An |
Khai thác hiệu quả các tuyến du lịch sinh thái, tạo sinh kế cộng đồng. |
Xây dựng trái phép công trình đường lên núi Cái Hạ kéo dài nhiều tháng ở vùng lõi di sản; 67 cá nhân, tập thể bị xử lý kỷ luật. |
| Quần thể di tích Cố đô Huế |
Từng bước trùng tu di tích; thu hút lượng lớn khách tham quan quốc tế và trong nước. |
Ngập lụt gây mục ruỗng kết cấu gỗ, vôi vữa tại Nghinh Lương Đình, Cung An Định, Lầu Tàng Thơ; kinh phí bảo tồn hạn hẹp. |
Về sự phát triển pháp lý, tác giả chia làm 3 giai đoạn: trước năm 1986 (đặt nền móng bằng Sắc lệnh 65/SL năm 1945 nhưng gián đoạn do chiến tranh); giai đoạn 1986 - 2001 (Việt Nam tham gia Công ước Heritage năm 1987 và bắt đầu nội luật hóa); giai đoạn 2001 đến nay (ban hành Luật Di sản văn hóa 2001, sửa đổi 2009 và Nghị định số 109/2017/NĐ-CP).
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo tồn và khai thác giá trị di sản thế giới tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chương 2 đi sâu phân tích các quy định thực định, vạch rõ những mâu thuẫn trong văn bản pháp luật:
- Bất cập về phân định khu vực bảo vệ di sản:
- Quy định tại Điều 4 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP coi khu vực DSTG tương đương khu vực bảo vệ I, vùng đệm tương đương khu vực bảo vệ II của di tích quốc gia đặc biệt. Theo khoản 3 Điều 32 Luật Di sản văn hóa, việc xây dựng công trình bảo vệ tại khu vực I phải do Thủ tướng Chính phủ đồng ý bằng văn bản. Tuy nhiên, điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Di sản văn hóa lại quy định việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) phê duyệt bằng văn bản. Điều này dẫn tới tình trạng cùng một công trình tu bổ di sản nhưng phải xin ý kiến của cả hai cấp có thẩm quyền, gây ách tắc thủ tục.
- Luật Di sản văn hóa không đưa ra định nghĩa rõ ràng về "công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích", tạo kẽ hở cho sự tùy nghi áp dụng.
- Pháp luật Việt Nam chưa có quy định giới hạn các hoạt động khai thác, phát triển tại vùng đệm để tạo lớp rào chắn bảo vệ vùng lõi theo đúng tinh thần Điều 103, 104 Hướng dẫn thực hiện Công ước Heritage.
- Bất cập về tổ chức và trách nhiệm quản lý:
- Điều 5(b) Công ước Heritage yêu cầu thành lập cơ quan chuyên trách bảo vệ, bảo tồn di sản. Tuy nhiên, Điều 15 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP chỉ gọi chung chung là "tổ chức được giao quản lý, sử dụng DSTG" dưới mô hình đơn vị sự nghiệp công lập. Do mang tính sự nghiệp công, các Ban Quản lý không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, chỉ có thể lập biên bản, kiến nghị chính quyền địa phương hoặc Sở VHTTDL giải quyết.
- Cơ cấu tổ chức của 08 Ban Quản lý/Trung tâm bảo tồn thiếu thống nhất: có đơn vị trực thuộc UBND cấp tỉnh, có đơn vị trực thuộc Sở VHTTDL hoặc UBND cấp huyện.
- Pháp luật hiện hành thiếu quy định về trung tâm đào tạo chuyên sâu cán bộ bảo tồn di sản theo Điều 5(e) Công ước Heritage.
- Cơ chế phối hợp liên ngành yếu kém, điển hình là việc Sở Du lịch Ninh Bình 5 lần gửi văn bản kiến nghị nhưng không ngăn chặn kịp thời việc xây dựng trái phép tại núi Cái Hạ (Tràng An).
- Bất cập về cơ chế tài chính và đầu tư:
- Thiếu quy định chi tiết vận hành Quỹ bảo tồn DSTG; Điều 20 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP giao quyền cho UBND cấp tỉnh nhưng trên thực tế chưa có Quỹ bảo tồn DSTG nào đi vào hoạt động.
- Quy hoạch di sản phải tuân thủ Luật Đầu tư công năm 2019, quy trình phê duyệt chủ trương đầu tư kéo dài làm chậm tiến độ dự án. Ví dụ: Quy hoạch bảo tồn Khu di tích Mỹ Sơn giai đoạn 2008 - 2020 phê duyệt 125 tỷ đồng nhưng ngân sách thực tế chỉ giải ngân đạt 20,8 tỷ đồng (khoảng 15 - 20%), phụ thuộc chủ yếu vào tài trợ nước ngoài.
- Chưa có cơ chế ưu đãi thuế hay khung pháp lý rõ ràng để huy động vốn theo hình thức hợp tác công - tư (PPP).
- Bất cập trong khai thác giá trị và xử lý vi phạm hành chính:
- Khai thác du lịch thương mại hóa làm mất giá trị nguyên gốc. Dẫn chứng nghiên cứu của Hai & Cheung tại Huế: 66,5% du khách chỉ có trải nghiệm bề mặt; khảo sát của Hoàng Thị Diệu Thúy trên 534 khách tại di tích Huế cho thấy tỷ lệ khách quay lại lần 2 trở lên chỉ đạt 27% (khách quốc tế chỉ 7%), 29% khách không hài lòng đề nghị tăng cường biển chỉ dẫn nội dung.
- Nghị định số 38/2021/NĐ-CP bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý: Điểm b khoản 6 Điều 20 quy định chung một mức phạt tiền (từ 30.000.000 đến 40.000.000 đồng) cho hành vi xây dựng không phép ở khu vực bảo vệ II của di tích cấp tỉnh, di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt là cào bằng mức độ nguy hại; điểm a khoản 7 Điều 20 phạt tiền đối với hành vi hủy hoại, làm thay đổi yếu tố gốc nhưng lại không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phục hồi nguyên trạng.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã cung cấp một hệ thống luận cứ pháp lý và dữ liệu thực chứng hoàn chỉnh:
- Phân tích chi tiết sự không tương thích giữa các quy định của Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi 2009), Nghị định số 109/2017/NĐ-CP với Công ước Heritage 1972 và Hướng dẫn thực hiện Công ước.
- Chứng minh tính kém hiệu quả của các chế tài hành chính tại Nghị định số 38/2021/NĐ-CP thông qua các số liệu và vụ việc cụ thể tại Tràng An, Phong Nha - Kẻ Bàng, Mỹ Sơn, Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long và Thành nhà Hồ.
Về các đề xuất và kiến nghị, tác giả đưa ra hệ thống giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện thẩm quyền phê duyệt: Quy định một đầu mối duy nhất là Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền xem xét, quyết định đối với các dự án quy hoạch, bảo quản, tu bổ, phục hồi trong khu vực bảo vệ của DSTG nhằm khắc phục sự chồng chéo giữa Điều 32 và Điều 34 Luật Di sản văn hóa.
- Quy định cơ chế pháp lý cho vùng đệm: Bổ sung các điều khoản giới hạn cụ thể về quy mô, mật độ xây dựng và hoạt động khai thác du lịch trong vùng đệm nhằm thiết lập hàng rào bảo vệ vững chắc cho vùng lõi di sản.
- Kiện toàn tổ chức quản lý: Thống nhất mô hình cơ quan quản lý DSTG trên toàn quốc; phân định rõ thẩm quyền và bổ sung thẩm quyền xử lý, ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính tại chỗ cho các Ban Quản lý di sản.
- Cơ chế tài chính đặc thù: Xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế tổ chức, vận hành Quỹ bảo tồn DSTG; tháo gỡ vướng mắc về trình tự đầu tư công cho các dự án trùng tu di sản; ban hành chính sách ưu đãi thuế và cơ chế chia sẻ lợi ích để thúc đẩy mô hình hợp tác công - tư (PPP).
- Sửa đổi chế tài xử phạt: Phân hóa mức phạt vi phạm hành chính tại Nghị định số 38/2021/NĐ-CP theo thứ hạng di tích (tăng nặng đối với di tích quốc gia đặc biệt / DSTG); bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc "buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu" đối với hành vi làm thay đổi, hư hại yếu tố gốc của di sản.
Về đóng góp khoa học, tác giả tự khẳng định đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp kết hợp cả hai khía cạnh bảo tồn và khai thác giá trị DSTG dưới góc độ pháp luật môi trường và pháp luật di sản, vượt qua cách tiếp cận đơn thuần về quản lý hành chính của các công trình trước đó.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ giới hạn khảo cứu nhóm di sản văn hóa vật thể (gồm di sản văn hóa, di sản thiên nhiên và di sản hỗn hợp), chưa mở rộng sang lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu thế giới tại Việt Nam.
- Nguồn số liệu thực tế chủ yếu kế thừa từ các tài liệu thứ cấp, báo cáo tổng kết của các địa phương và một số công trình nghiên cứu đi trước; chưa có điều kiện khảo sát thực địa toàn diện trên diện rộng tại tất cả 08 khu di sản.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tác giả đề xuất mở rộng nghiên cứu cơ chế pháp lý quản lý các di sản thế giới liên tỉnh, phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện hồ sơ đề cử Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử (thuộc ba tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang).
- Nghiên cứu xây dựng khung pháp lý chi tiết điều chỉnh mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong quản trị, vận hành và phân chia nguồn thu dịch vụ tại các khu DSTG.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật (Luật Môi trường, Luật Hành chính, Luật Thương mại) và chuyên ngành Quản lý văn hóa, Du lịch học.
- Cán bộ làm công tác tham mưu chính sách, quản lý thực tiễn tại Cục Di sản văn hóa, Sở VHTTDL và các Ban Quản lý, Trung tâm Bảo tồn di sản trên cả nước.
Phần đáng giá nhất để tham khảo là Chương 2, nơi tác giả rà soát, chỉ rõ từng xung đột điều khoản giữa Luật Di sản văn hóa với Nghị định số 109/2017/NĐ-CP và Nghị định số 38/2021/NĐ-CP, đi kèm các phân tích thực chứng sâu sắc về mô hình tổ chức ban quản lý và cơ chế tài chính cho di sản.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận chỉ ra điểm mâu thuẫn, chồng chéo nào trong thẩm quyền phê duyệt tu bổ, xây dựng tại di sản thế giới?
Khóa luận chỉ rõ: Theo khoản 3 Điều 32 Luật Di sản văn hóa năm 2001, việc xây dựng công trình tại khu vực bảo vệ I của di tích quốc gia đặc biệt (gồm các khu DSTG) phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ. Trong khi đó, điểm b khoản 1 Điều 34 của Luật này lại quy định việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải có văn bản đồng ý của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Sự thiếu nhất quán này dẫn đến việc một công trình trùng tu phải xin phê duyệt của cả hai cấp, gây kéo dài thời gian và chậm trễ tiến độ.
2. Vì sao các Ban Quản lý Di sản thế giới tại Việt Nam gặp bất cập trong việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm di sản tại chỗ?
Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định số 109/2017/NĐ-CP, các tổ chức được giao quản lý DSTG được tổ chức dưới mô hình đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công. Do không phải là cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức này không có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, chỉ có thể phối hợp kiểm tra và báo cáo chính quyền địa phương hoặc Sở VHTTDL xử lý, khiến việc ngăn chặn vi phạm không kịp thời.
3. Khóa luận nêu dẫn chứng cụ thể nào về sự thiếu hụt kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho các dự án bảo tồn di sản?
Khóa luận dẫn chứng trường hợp Quy hoạch bảo tồn di tích Khu đền tháp Mỹ Sơn (giai đoạn 2008 - 2020): Tổng mức đầu tư theo Quy hoạch được duyệt là 125 tỷ đồng, nhưng qua 12 năm triển khai, nguồn ngân sách nhà nước chỉ cấp đạt 20,8 tỷ đồng (tương đương 15 - 20% so với kế hoạch), phần lớn các hạng mục phải phụ thuộc vào các dự án tài trợ từ nước ngoài.
4. Dữ liệu khảo sát du lịch tại Cố đô Huế trong khóa luận phản ánh vấn đề gì về việc khai thác giá trị di sản?
Dẫn số liệu từ nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Diệu Thúy (khảo sát 534 du khách tại 4 điểm tham quan ở Cố đô Huế), khóa luận chỉ ra: Tỷ lệ khách quay trở lại từ lần thứ 2 trở lên chỉ đạt 27%, trong đó khách quốc tế quay trở lại chỉ vỏn vẹn 7%. Đồng thời, nghiên cứu của Hai & Cheung cho thấy 66,5% du khách chỉ có trải nghiệm bề mặt, phản ánh hoạt động khai thác du lịch mới chỉ chú trọng yếu tố thương mại, giải trí mà chưa truyền tải được giá trị lịch sử cốt lõi của di sản.
5. Tác giả kiến nghị sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ở những điểm nào?
Tác giả kiến nghị: Phân định rõ mức tiền phạt tương ứng với mức độ bảo vệ của từng phân hạng di tích (không đánh đồng di tích cấp tỉnh với di tích quốc gia đặc biệt như tại điểm b khoản 6 Điều 20); đồng thời bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc "buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu" đối với hành vi làm thay đổi, hủy hoại yếu tố gốc cấu thành di tích tại điểm a khoản 7 Điều 20.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đỗ Thị Thu Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh việc bảo tồn và khai thác giá trị Di sản thế giới tại Việt Nam. Bằng phương pháp phân tích thực chứng kết hợp luật học so sánh, công trình đã vạch rõ những bất cập về phân định khu vực bảo vệ, mô hình tổ chức ban quản lý, cơ chế tài chính và chế tài xử lý vi phạm hành chính. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học hữu ích cho quá trình sửa đổi Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hướng tới phát triển bền vững.