Mở đầu cho kiến trúc Thiên Trù là tòa gác chuông ba tầng mái. Vượt qua gác chuông lên tầng trên vào chùa, cảnh vật khang trang to lớn tương ứng với sự hùng vĩ của thiên nhiên. Bên phải chùa là nhà khách, nhà tăng, thư tàng. Trong khuôn viên chùa có nhiều tháp cổ, đáng quan tâm nhất là Viên công bảo tháp được dựng vào cuối thế kỷ XVII làm nơi lưu giữ xá lỵ của Tổ Viên Quang.
Qua chùa Thiên Trù lên chùa Tiên, nơi điển hình của sự hội nhập giữa tín ngưỡng thờ Mẫu và đạo Phật. Vượt qua chùa Tiên đến chùa Giải Oan là nơi bà chúa Ba tắm rửa hết oan nghiệt để chuyên vào kiếp tu. Từ đây cuộc hành hương tiếp tục đưa tới động Tuyết Sơn, đền Cửa Võng và động Hương Tích. Trong tập hợp các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử văn hoá do Trần Mạnh Thường chủ biên (1998), Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam 12 [84] đã miêu tả thắng cảnh Hương Tích là một khu vực rộng lớn gồm nhiều núi non, sông suối và hang động.
Đền Trình còn gọi là đền Ngũ Nhạc đi từ bến Yến vào. Chùa Thiên Trù hay còn gọi là chùa Ngoài xưa kia có trên trăm nóc với những công trình kiến trúc quy mô tinh xảo, nhưng tất cả bị tàn phá trong cuộc chiến tranh chống Pháp, chỉ còn lại một vườn tháp, trong đó đáng chú ý nhất là Thiên Thủy tháp và Viên Công bảo tháp là những công trình nghệ thuật đất nung thế kỷ XVII. Tiếp theo là chùa Tiên Sơn được xây dựng vào niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1678), chùa Giải Oan được xây dựng từ đời Lê Huy Tông niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1687), đền Cửa Võng thờ bà chúa Thượng Ngàn, động Hương Tích là điểm chính của thắng cảnh có hình thế như một con rồng lớn đang há miệng. Trên vách núi trước cửa động của dòng chữ “Nam Thiên đệ nhất động”.
Trên vách động có tòa Cửu Long bằng nhũ đá, tượng Phật bà Quan Âm bằng đá xanh được tạc thời Tây Sơn. Ngoài ra phải kể đến một số công trình sách khảo tả vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên và hoạt động tín ngưỡng tại chùa Hương của những tác giả như: Nguyễn Đức Bảng (2000), Chùa Hương cổ tích [7] đã khảo tả vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên, các hang động mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian, là nơi các tao nhân mặc khách thường lui tới để thưởng ngoạn phong cảnh. Trần Lê Văn (2005), Thắng cảnh Hương sơn [103] là một tập hợp các bài thơ Hán - Nôm của các bậc tao nhân mặc khách bình về vẻ đẹp núi non hùng vĩ, các hang động thiên tạo kết hợp với các công trình kiến trúc Phật giáo tạo nên một vùng danh lam thắng cảnh Hương Sơn nổi tiếng. Công trình sách 36 danh thắng Hà Nội [66] đã mô tả về hoạt động tín ngưỡng trong lễ hội chùa Hương và những giá trị nổi bật của quẩn thể di tích và thắng cảnh Hương Sơn được coi là một trong những đại kỳ quan của đất nước.
Những năm gần đây một số công trình sách viết về những giá trị đặc trưng văn hoá phi vật thể của các ngôi đình, chùa, hang động trong quần thể di tích và danh thắng Hương Sơn. Có thể kể đến một số tác giả như: Võ Văn 13 Tường (2007), 108 danh lam cổ tự Việt Nam [95] giới thiệu khái quát về quần thể di tích và danh thắng chùa Hương, bao gồm: Chùa Thiên Trù, tháp Thiên Thủy, suối Yến, núi Mâm Xôi, động Hương Tích, đền Trình, chùa Tiên Sơn, chùa Giải Oan, động Hinh Bồng, động Đại Binh. Thông qua hình ảnh và diễn giải, người đọc hiểu rõ hơn về kiến trúc các ngôi chùa, cách bài trí tượng phật, cũng như vẻ đẹp thắng cảnh quần thể Hương Sơn. Thành Nhân (2008), Di tích lịch sử chùa Hương [64] đã miêu tả di tích lịch sử chùa Hương là một khu vực rộng lớn gồm nhiều núi non, sông suối và hang động.
Đền Quán Lớn thờ một bộ tướng của vua Hùng thứ XVI, chùa Thiên Trù, chùa Tiên Sơn kết hợp hai yếu tố chùa và động, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng, động Hương Tích tiêu biểu cho vùng thắng cảnh. Tác giả cho rằng những ai đã đến chùa Hương mà chưa vào thăm động Hương Tích thì coi như chưa tới nơi cửa Phật. Trần Lê Văn (2005), Thung mơ Hương Tích [102] là một tập bút ký giới thiệu về Hương Sơn, dựa vào các tư liệu sưu tầm công phu qua chuyện kể của người địa phương, văn bia, thiền phả và nguồn tư liệu khác. Tác giả đã giới thiệu Hương Sơn là một cảnh đẹp thiên nhiên nổi tiếng ở Việt Nam, được tô điểm thêm từ lâu đời bằng những công trình văn hoá nghệ thuật.
Hương Sơn còn được biết điến như là một nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, một địa điểm khảo cổ học và danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Một số tác giả như Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (2009), Chùa Việt Nam [74] đã giới thiệu 122 ngôi chùa tiêu biểu trên khắp mọi miền đất nước qua các thời kỳ Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn và những ngôi chùa mới được phục dựng những năm gần đây. Nội dung cuốn sách có phần giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của quần thể di tích và danh thắng Hương Sơn, cũng như miêu tả về kiến trúc, cảnh quan, nội thất, tượng Phật, đồ thờ tự trong chùa Thiên Trù, động Hương Tích, chùa Tiên Sơn, chùa Giải Oan… kèm với ảnh và chú thích, trong đó có bức ảnh của Đại đức Thích Minh Hiền trụ trì chùa Hương. 14 Cũng nghiên cứu về các ngôi chùa ở Việt Nam, Phạm Thị Lan Anh (2012), Vấn đề mật tông qua một số chùa ở Hà Nội, Luận án tiến sĩ triết học [2] giới thiệu khái quát 630/1720 ngôi chùa Phật giáo, trong đó có chùa Hương.
Tác giả cho rằng chùa Hương thực sự nổi tiếng từ thời Lê Thánh Tông và các triều đại sau này liên tiếp hưng công xây dựng. Cụ thể là năm 1655, vua Lê Thần Tông đã đúc một chiếc chuông đồng lớn và lư đồng đặt tại động Hương Tích. Năm 1694, phu nhân Hoàng Ngọc Hương bỏ tiền ra xây dựng chùa Tuyết Sơn. Năm 1707, đại sư Thông Lâm phát hiện ra động Giải Oan và cho dựng chùa tại đây.
Song song với việc tu bổ, tôn tạo di tích cũ, nhiều chùa đền mới được xây dựng nên. Từ một thảo am nhỏ bé từ thời Hồng Đức (TK 15), ngày nay Hương Sơn trở thành trung tâm Phật giáo lớn ở Việt Nam. Ngoài ra phải kể đến công trình nghiên cứu khảo cổ học vùng đất Hương Sơn của Phạm Đức Mạnh “Những dấu tích xưa nhất của con người trên mảnh đất Hà Thành hôm nay” [61] cho rằng vào tháng 3 năm 1974, cố Giáo sư Trần Quốc Vượng và cố Giáo sư Từ Chi đã phát hiện vỏ trai, ốc sông biển nhuốm thổ hoàng, xương thú gần hóa thạch, mảnh cuội chày nghiền… của người nguyên thuỷ trên bề mặt hàng loạt hang động ở Hương Sơn cách ngày nay khoảng 20. Đây là những dấu tích đặc trưng nhất của nền văn hóa Hòa Bình ở Hà Nội.
Trong Hồ sơ di tích chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, có nội dung viết về hoạt động nghiên cứu khảo cổ học cho rằng vùng đất Hương Sơn có nhiều núi đá vôi và hang động phù hợp với đặc điểm cư trú của người nguyên thuỷ. Trong đó các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều tầng văn hóa và công cụ làm bằng đá như rìu ngắn, nạo, bàn nghiền, chày nghiền hạt, rừu mài lưỡi… ở hang Chùa Mới, Sũng Sàm, Sập Bon, Thanh Sơn và Hang Luộn. Như vậy trên cơ sở bằng chứng khảo cổ học cho thấy sự định cư liên tục của con người tại vùng đất Hương Sơn từ thời tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun) đến thời văn hóa Đông Sơn [Phụ lục 2, Mục 4. Các công trình nghiên cứu về quản lý di tích lịch sử văn hóa Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá, trong đó có di tích quốc gia đặc biệt là một lĩnh vực đặc thù của công tác quản lý nhà nước.
Có thể kể đến công trình nghiên cứu khoa học của Lê Ngọc Dũng (1995), Tổ chức quản lý khai thác các di tích và danh lam thắng cảnh ở Việt Nam trong cơ chế thị trường, Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế học [22] đã nghiên cứu thực trạng quản lý các di tích và danh thắng, cũng như đề xuất các giải pháp như: Xây dựng chiến lược bảo tồn, khai thác các giá trị của di tích và danh lam thắng cảnh; hoạt động khai thác di tích và danh thắng phải gắn với bảo tồn, gìn giữ những giá trị của di sản văn hóa; đẩy mạnh hoạt động khảo cổ, nghiên cứu xếp hạng di tích và danh thắng để có phương án bảo tồn, phát huy có hiệu quả. Trong lĩnh vực quản lý di tích gắn với phát triển du lịch, Lê Đức Thắng (1996), Quy hoạch các điểm du lịch với việc khai thác di sản kiến trúc văn hóa - lịch sử khu vực Hà Nội, Luận án tiến sĩ khoa học kỹ thuật [78] đã xây dựng khung phân loại loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, di tích khảo cổ, di tích thắng cảnh và di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đồng thời nghiên cứu sự hình thành các điểm du lịch trên cơ sở khai thác giá trị của di tích; phân tích những yếu tố ảnh hưởng của du lịch đến cơ sở hạ tầng của di tích và đề xuất giải pháp quy hoạch bố cục không gian các điểm di tích để có biện pháp bảo tồn, khai thác du lịch. Khi bàn về cơ chế, chính sách và nguồn nhân lực quản lý di tích lịch sử văn hoá, Lưu Trần Tiêu trong bài viết “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam” [86] cho rằng công tác quản lý di tích cần tập trung vào ba vấn đề chính, đó là công nhận và xếp hạng cho di tích, quản lý cổ vật và phân cấp quản lý nhà nước về di tích.
Tác giả nêu ra các biện pháp mang tính cấp bách như: Thể chế hóa cơ chế chính sách của nhà nước, quy hoạch toàn bộ các di tích được công nhận, phân cấp quản lý, xã hội hóa hoạt động bảo tồn, ưu tiên đầu tư ngân sách, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý di 16 tích.