mở đầu, chủng ta đã thấy trị thức truyền thống đã bị sử dụng mà không được sự đồng ý của những cộng đẳng năm giữ trí thức. Hơn nữa, việc sử dựng lại nhằm mục đích thương mai thi cảng khỏ chấp nhận, Nếu không có cơ chế bảo hộ trí thức truyền thông khỏi việc chiếm đoạt, sử đụng nhằm thu lợi riêng, không có su chia sẻ lợi ích thì sẽ là không công bằng. Việc thiết lập một hệ thống bào hộ tri thức truyền thống sẽ ngăn chận việc "ăn cắp” trí thức và đảm bảo việc chỉa sẻ lợi ich. Day la một điều hết sức quan trọng, nhất là khi người năm giữ trí thức thì nghèo, còn kế chiếm đoạt và hưởng lợi từ trí thúc đó lại là những kẻ giàu có, Ngoài ra việc bảo hộ cèn có ý nghĩa khác.
trong đó có vấn để về đạo đức, tỉnh thần của chủ sở hữu. nhiều khi việc bảo hộ chỉ đơn giản là để thể hiện sự tôn. trọng đối với chủ sở hữu. người sảng tạo trí thức.
Trong nhiều trường hợp, người la sẵn sang cho phép sử dụng tự đo trí thức mả không cần phải chia sé loi ích hay có đền bù gì, nhưng đổi lại, nhất là trone xã hội hiện đại. cần phải biết tôn trọng chủ sở hữu vả đó cũng. là cách ghỉ nhận những đóng góp của họ dỗi với cộng dông và xã hội, 24 Khuyến khích việc sử dụng và nâng cao tầm quan trọng của trì thức truyễn thẳng trong phát triển. Việc khuyến khích sử dụng trí thức truyền thống là một mục tiểu quan trọng hiện nay vì những giá trị của trí thức truyền thông mang Jai.
Viée bảo vệ trí thức truyền thống, nhằm tránh việc mắt mát và chiếm đoạt trí thức truyền thông. hoặc đảm bảo đến bủ cho người nắm giữ tri thức truyền thống, lì những yếu tổ cẩn thiết để tạa điều kiện cho việc sử dụng rộng rãi hơn trí thức này Việc báo hộ có thể tạo điều kiện cho việc tiếp cận ơi thức truyền thống, Vì việc bảo bộ có thé 1a0 su tin tưởng cân thiết để những người năm giữ trí thức chia sẻ trí thức truyền thống cửa họ rộng rài hơn. đẳng thời nâng cao vị trí của họ trong việc thu nhận giá trị từ nó, Nếu như quyền của họ được bảo hộ, người nắm giữ trí thức có thể sẽ chuẩn bị tốt hơn để tạo diễu kiện cho việc tiếp cận trí thức và nếu được đến bù hợp lý họ sẽ có thêm điều kiện để bảo tần trí thức cũng như việc tiếp tục sử dụng trì thức. Tuy nhiên việc ghi nhận hoặc xây dựng những hình thức mới cös quyền sở hữu trí tuệ đối với tr thúc truyền thẳng cũng có thẻ làm giảm chứ không phải là khuyến khich việc sử dụng (ri thúc này.
Trong trường hợp giỗng cây của nguũi nông dân, việc bảo hộ 14 sở hữu trí tuệ có thể làm ảnh hưởng đến những trao đổi nguyên liệu để nghiên cứu và phái triển, và như vậy, ảnh hưởng đếné đa đạng sinh học cũng như những lợi ich tiễm ẩn có thể thu được từ đó. cần có sự cân bằng giữa lợi ich có thể thu được tử việc bảo hộ theo kiểu sở hữu trí tuệ đối với trí thức truyền thống và những chỉ phí có thể sẽ phat sinh đo việc hạn chế sử đụng trị thức đó, Như vậy. không nên bảo hộ trị thức truyền thếng theo kiểu hạn chế việc tiếp cận trí thức mà cần khuyến khích sử đụng trí thức truyền thống, nhưng đồng thời cũng phải có những biện pháp ngăn chặn việc chiêm đoạt. Philippin là nước có cách báo hộ tr thức truyền thống thoả mãn được những yêu cầu nảy, luật vẺ trị thức truyền thống của Philippin chỉ rõ mục đích "thủe dây sự phát triển của y học truyền thống” được thực hiện bằng cách nâng cao việc sản xuất.
kiếm soát chất lượng vả marketing các nguyên liệu y học truyền théng (Correa, 2001) Khuyến khích phát triển cũng chính là đẻ bào hệ trí thức truyền thống, để trị thức không bị mai một và mắt đi. Tri thúc truyền thông là một nguằn trí thức vẫn còn ít được sử đụng trong guá triob oshiên cửu phát triển hiện đại. nếu so với tiểm năng của nó. Việc bảo hộ bằng pháp luật có thẻ tạo cơ hội khai thác các sản phẩm và dịch vụ đựa trên tri thức truyền thông.
Tri thức truyền thống cũng có thể là nguỗn quan trọng cho việc đẩy mạnh hoạt động đổi mới địa phương, góp phần thúc đầy phát triển kinh tế, xã hội. Như vậy, việc bảo hộ trị thức truyền thông. không còn phải tranh cãi, là một việc rất cằn thiết. 'Vắn để ở đây là bảo hộ như thể nào, liệu pháp luật về sở hữu trí tuệ có phải là biện pháp phù hợp không, hay còn cd các biên pháp khác hữu biệu hơn, các phần tiếp theo của chương 2 sẽ giài quyết những câu hỏi nảy 3.
Bao hộ trí thức truyền thông bằng pháp tnật về sở lim trí tiệ HỆ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT) là một phương tiện có thể dùng để bảo hộ trí thức truyền thông. Tuy nhiễn, cỏ rất nhiễu ý kiến trái ngược về điều này, cả ủng hộ và không iing hộ. do những tác đông của quy định về SIIFT đối với việc tiếp cận và sử dụng trì thức truyền thông nhự dš sèu ở phân trên, Những người ủng hộ việc áp dụng luật SHTT đôi với trị thức truyền taẳng đã tìm cách chứng mình trì thức. truyền thống có thể được bảo hộ bằng hệ thông SHIT bign tại hoặc với một chút thay đổi hình thức bảo hộ hiện tại của SHTT, Theo Correa (2001), những người phan dối thì dựa trên thực tiễn khác biệt giữa khải niệm quyền SHTT của phương Tây (các nước phát triển) và văn hoá của các cộng đồng bàn địa/địa phương (các nước đang phát triển).
Cũng có ý kién cho rằng việc đưa các cộng đồng và nguồn fire cba ho vào nên kinh s¿ thị trường hiện đại có thé sẽ tác động, xấu và phá hoại các xã hội này. Một luỗng ý kiếp nữa là với những khó khăn trong việc xây dựng cơ chế bảo hộ kiểu SHTT cho ứí thúc truyền thống, thì pháp luật SHTT quốc gia và các công ước quốc tế cần phải đàm báo trị ›bức đỏ không bị chiếm doạt quá đảng và được bảo hộ ngoài hệ thông SHTT. 15 Tinh phủ hợp của việc áp dụng cơ chế SHTT đổi với tri thức truyền thống phụ thuộc vào mục tiêu và khả năng chúng có thể đáp ứng với các đổi tượng khác nhau. VÌ pháp luật SHILT cổ thê là một công cụ để đạt được công bằng giữa người nắm giữ trì thức và những người sử dụng trí thức, với ý nghia là những người giữ ti thie truyền thống có thể được hưởng và tbực hiện những quyền có của minh để ngăn chặn việc sử dụng trái phép hoặc thu một khoản tiên cho việc sử dụng trì thức của họ.
Phật vậy, với tư cách là chủ sở hữu trí thức truyền thống, những người năm giữ trì thức hoàn toàn có thể đăng ký bảo hộ tài sản trị thức của mình và cộng đồng theo pháp luật về SHTT nếu đáp ứng được các tiêu chí và các diễu kiện cẩn thiết. Dưới đây là các đối tượng và hình thức bảo hộ của pháp luật SHITU có thể áp đụng đối với trí thức truyền thông. Trên thực tế một số nước Mỹ La tỉnh đã áp dụng hệ thếng bảo hộ bằng pháp luật về SHTT này đố; với trí thức truyền thông (GRUL AC, 2000) Bản quyền Bân quyền có thẻ được sử dụng để bảo hộ các hình thái nghệ thuật của những người nắm giữ trí thức truyền thống, đặc biệt là những nghệ nhân của cộng đồng bản địa, và dân tộc thiểu số, chẳng lại việc tải sản xuất và khai thác không được phép. Các trì thức truyền thống có thể được bảo bộ bằng hình thức chủ yếu là các loại hình văn hoá nghệ thuật đân gian Sáng chế Việc bảo hệ thông qua cấp bằng sáng chế (pa-täng) có thẻ được sử dụng để bảo hộ các giải pháp kỹ thuật, có thé áp dụng công nghiệp.
có ính mới và có tính sáng tạo. Đối với các nguân gen và trị thức truyền thông, paăng có thê được áp dụng, chẳng hạn với những sân phẩm đã được chiết xuất, phát triển từ các cấu trúc gen, vi tổ chức, và động thực vật hay các tổ chức tồn tại trong tự nhiễn. Pa-tãng có thế áp dựng cho các quy trình kết hợp trong việc sử dụng vá khai thác các nguồn lực này, Tắt cả các kết quà của công nghệ sinh học có sứ dụng các nguồn gen, chưa công bổ, thì về nguyên tắc đều có thể được bảo hộ bằng pa-tăng, ‘Tuy nhiên, theo những tiêu chỉ để được bào hộ, có thể thấy một sổ khó khăn để có thể bảo hộ trí thức truyện thống theo hinh thức pa-tãng, đặc biệt là tiêu chí tính mới Người xin bảo hộ phải chứng minh dược tỉnh mới của trì thức so với trình độ khoa học kỹ thuật hiện tại. điêu đó cũng không phải là không thực hiện được do đặc điểm của trí thức truyền thống là thường được truyền khẩu.
không được ghỉ nhận dưới dạng văn bản công bố ra đại chúng, Với đặc điểm này, người ta hoàn toàn có thể chứng, minh tịnh mới bằng việc không có tải liệu bay cơ sở nào cho thấy sự tổn tại của trí thức này trước đỏ (nếu kiểm tra theo cách của các nhà kiểm tra sáng chế vẫn làm khi xem xét đơn đăng ký, túc lá tra cứu đữ liệu). tri thức truyền thống có thể có những, ưu điểm, mặc đù đã tỏn tại từ lâu, nhưng chỉ trong nội bộ cộng đồng có trí thức nên không phố biến đôi với dại chủng. vì vậy, nó vẫn có thể được coi là có tỉnh mới 16 Giẳng câu trằng Sản phẩm cây trồng môi, kỹ thuật canh tác và giỏng của các loại thực vật có thể được bảo hộ theo “quyền của người lạo giống. Dễ được báo hộ, giống mới phải khác biệt sơ với các loại giêng đã được biết đến trước đấy, có tỉnh dn định và đẳng nhất, Trí thức tuyển thống để được bào hộ theo biện pháp này cũng có vướng mắc về tính mới của giống cây trùng.
bởi rất nhiễu công đồng đã trống và duy trí giống cây tring da qua nhiều thể hệ, vì vậy những giễng cây này rất khó có thê đáp ứng tiêu chỉ mới để được bảo hộ. Hơn nữa, do không có điều kiện nghiên cứu chọn tạo, việc phát triển giống của người nông dân bàn địa rất đơn giản nên giống của họ cũng khó đạt được tiêu chỉ ôn định hay đồng nhất.