CHƯƠNG 1 KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP VÀ QUY ĐỊNH CỦA THỎA ƯỚC LA HAY VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm chung về kiểu dáng công nghiệp và đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp 1. Khái niệm về kiểu dáng công nghiệp Sự coi trọng trí tưởng tượng hơn tri thức là một điểm khởi đầu của sự hình thành và phát triển sở hữu trí tuệ dựa trên khả năng của trí tưởng tượng. Mặc dù không coi nhẹ tri thức, nhưng chúng ta ai cũng hiểu rằng chính năng lực dựa trên nền tảng hiện có của những tri thức đã được thừa nhận và hơn nữa còn nhìn xa ra ngoài giới hạn tiếp theo của sự khám phá, là nguồn gốc của sự tiến bộ cá nhân, văn hóa và kinh tế.
Nếu như trước đây ở những thế kỷ trước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà phát minh tiêu biểu như Albert Einstein đã thỏa mãn với việc chỉ đơn giản học các định luật vật lý như là những tri thức xuất hiện trước Ông (Albert Einstein) thì có thể Ông đã trở thành 1 sinh viên thành đạt, nhưng Ông không bao giờ có thể phát triển được thuyết tương đối, học thuyết đã trở thành nền tảng của vật lý hiện đại như ta thấy và ngày nay đang tiếp tục phát triển. Sở hữu trí tuệ là thuật ngữ mô tả những ý tưởng, sáng chế, kiểu dáng của sản phẩm trong công nghiệp (kiểu dáng công nghiệp), công nghệ sản xuất, tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và văn học, những cái vô hình khi mới được tạo ra nhưng trở nên đáng giá dưới dạng sản phẩm hữu hình. Có thể nói rằng sở hữu trí tuệ là sự áp dụng tư duy tưởng tượng để giải quyết một thách thức kỹ thuật hay nghệ thuật, sở hữu trí tuệ không phải là bản thân sản phẩm mà là ý tưởng đặc biệt đằng sau sản phẩm, là cách thức thể hiện ý tưởng đó và là cách thức riêng mà sản phẩm được gọi tên và mô tả. Từ cuối thế kỷ XIX, khái niệm về kiểu dáng công nghiệp đã xuất hiện, gắn liền với khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của khoa học công nghệ và các sáng tạo trong kinh 9 doanh, khái niệm về kiểu dáng công nghiệp ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, trên thế giới hiện có nhiều khái niệm khác nhau về KDCN. Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Kiểu dáng công nghiệp là các khía cạnh mang tính chất trang trí hay thẩm mỹ của sản phẩm. Kiểu dáng có thể bao hàm các khía cạnh ba chiều, ví như hình dạng hoặc bề mặt của sản phẩm, hoặc các khía cạnh hai chiều, ví như mẫu hoa văn, đường nét hoặc màu sắc”2.
Từ định nghĩa này, KDCN có thể được hiểu theo một nghĩa rất rộng. Đầu tiên, KDCN được xác định ở tính chất trang trí hay thẩm mỹ của nó. Bên cạnh đó, KDCN cũng được xác định bằng biểu hiện bên ngoài của sản phẩm như họa tiết, đường nét, màu sắc hoặc ba chiều như hình khối, kết cấu của sản phẩm. Theo pháp luật của Hoa Kỳ, một trong những nước phát triển hàng đầu về những sản phẩm sở hữu trí tuệ, thì “Kiểu dáng bao gồm các đặc tính trang trí được thể hiện hay áp dụng trong một sản phẩm.
Vì kiểu dáng được thể hiện ở hình dáng bên ngoài nên các đối tượng bảo hộ kiểu dáng có thể là hình dạng của một sản phẩm, là trang trí mặt ngoài của một sản phẩm, hay là sự kết hợp giữa hình dạng và trang trí bên ngoài. Một kiểu dáng trang trí bề ngoài không thể tách rời khỏi sản phẩm mà nó trang trí và do vậy không thể tự thân tồn tại một mình được”3. Như vậy, đặc tính quan trọng nhất của KDCN là các đặc tính trang trí. Theo pháp luật Hoa kỳ, điểm mấu chốt của kiểu dáng công nghiệp là nhất thiết phải gắn liền với sản phẩm mà nó trang trí, nghĩa là không có dạng KDCN tự thân tồn tại một mình.
Theo pháp luật Việt Nam, từ trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật dân sự 1995 đã quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, 2 Những điều chưa biết về Sở hữu trí tuệ (2004), truy cập ngày 01/01/2023, từ cơ sở dữ liệu của WIPO, liên kết theo đường dẫn tại trang thông tin điện tử: https://www.int/export/sites/www/sme/en/documents/guides/translation/secrets_of_ip_vi.pdf 3 Định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp theo pháp luật Hoa Kỳ, truy cập ngày 01/01/2023, từ cơ sở dữ liệu của Cục Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), liên kết theo đường dẫn tại trang thông tin điện tử: https://www.gov/ip-policy/patent-policy/industrial-designs/. 10 được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp”4. Hiện nay, tại khoản 13 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp”5. Theo định nghĩa này, có thể hiểu rằng KDCN đơn thuần là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, hay là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp với họa tiết, là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp với màu sắc, hoặc là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp cả họa tiết, màu sắc và đặc biệt là phải nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Như vậy, với tư cách là một đối tượng của sở hữu trí tuệ, KDCN chỉ để cập đến các khía cạnh thẩm mỹ hoặc hình dáng bên ngoài của sản phẩm chứ không thể hiện các đặc điểm kỹ thuật hoặc chức năng bên trong của sản phẩm. Cách định nghĩa này của pháp luật Việt Nam cũng có nét tương đồng với định nghĩa của các nước trên thế giới khi khẳng định KDCN là hình dáng bên ngoài của sản phẩm và luôn gắn liền với sản phẩm. Mặc dù KDCN không đề cập đến các đặc điểm kỹ thuật hoặc chức năng của sản phẩm, tuy nhiên, KDCN có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản phẩm, vì nó là cái nhìn đầu tiên của người tiêu dùng về sản phẩm. Do đó, ngoài chức năng phân biệt hình dáng, màu sắc giữa các sản phẩm cùng loại, KDCN còn có chức năng thẩm mỹ, hấp dẫn thị hiếu người tiêu dùng thông qua những hình dáng và màu sắc đặc trưng riêng của sản phẩm đó.
Hình dáng bên ngoài của sản phẩm cũng là yếu tố 4 Điều 784 Luật số 44-L/CTN ngày 28/10/1995 của Quốc hội về Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 5 Điểm b, Điều 1 Luật số: 07/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. 11 quan trọng trong việc góp phần nâng cao tiện ích của sản phẩm, giúp cho sản phẩm được sử dụng thuận lợi và phổ biến. Kiểu dáng công nghiệp luôn luôn mang tính thẫm mỹ, làm cho sản phẩm đẹp hơn, kích thích thị hiếu của người tiêu dùng muốn mua hàng nhiều hơn, qua đó làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất.
Điểm mấu chốt trong khái niệm về kiểu dáng công nghiệp là KDCN ít nhất phải có khả năng áp dụng công nghiệp để sản xuất ra các sản phẩm, tái tạo bằng phương pháp công nghiệp hay thủ công nghiệp (vì vậy mới gọi là KDCN). Nếu không có yếu tố này thì không phải là KDCN mà là sự sáng tạo nghệ thuật (thuộc bản quyền tác giả). Tuy nhiên, trong định nghĩa về KDCN thì các yếu tố như tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng không phải là điều kiện tiên quyết để xác định thế nào là KDCN, mà đó chỉ là điều kiện để một đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa là KDCN. So sánh với các đối tượng khác của sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu và sáng chế thì KDCN có những điểm khác biệt cơ bản.
Chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu là chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Có thể hiểu rằng bất kỳ dấu hiệu nào đáp ứng được khả năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ này với sản phẩm, dịch vụ khác đều được đăng ký là nhãn hiệu. Trong khi đó, một hình dáng bên ngoài của sản phẩm nếu được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình thuộc lĩnh vực tương ứng thì lại không được bảo hộ như một KDCN. Như vậy, rõ ràng, tính sáng tạo trong KDCN được đề cao hơn so với nhãn hiệu.
Mặt khác, nhãn hiệu có thể gắn với hàng hóa hoặc dịch vụ; còn KDCN thì phải gắn liền với một sản phẩm nhất định vì đó là “hình dáng bên ngoài của sản phẩm”. Giống như KDCN, sáng chế cũng là những sản phẩm của hoạt động sáng tạo do con người tạo ra. Tuy nhiên, trong khi KDCN chỉ gắn liền với hình dáng bên ngoài của một sản phẩm nhất định thì sáng chế lại là giải pháp kỹ thuật. Sáng chế có thể thể hiện dưới dạng sản phẩm hoặc một quy trình được tạo ra bằng cách ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Như vậy, KDCN và sáng chế thuộc hai lĩnh vực hoàn 12 toàn khác nhau. Trong khi KDCN chú trọng đến tính thẩm mỹ của sản phẩm và có thể nhìn thấy bằng cảm quan, thì sáng chế lại là yếu tố kỹ thuật bên trong của sản phẩm. KDCN không thể tách rời khỏi sản phẩm, còn sáng chế có thể là quy trình, nên có thể tồn tại không phụ thuộc vào sản phẩm. Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp Quy luật thị trường thương mại quốc tế hiện nay là thế giới phẳng, mọi giao dịch thương mại đều dựa trên nguyên tắc bình đẳng với nhau, bên cạnh đó là sự hội nhập ngày càng sâu và phạm vi cũng được mở rộng ra đến một quy mô vô cùng to lớn.