HỆ THỐNG PHANH DẪN ĐỘNG KHÍ NÉN Giới thiệu: Phanh khí được sử dụng trên xe vận tải có tải trọng lớn nguyên lý làm việc của nó là sử dụng năng lượng của không khí nén để tiến hành phanh. Hệ thống phanh khí có ưu điểm là tạo ra lực phanh lớn, điều khiển nhẹ nhàng, có thể dùng không khí nén vào các mục đích khác như bơm hơi bánh xe, truyền động cho bộ phận gạt nước trên kính. Mục tiêu: - Giải thích được cấu tạo, nguyên lý hoạt động và phương pháp bảo dưỡng hệ thống phanh dẫn động khí nén - Tháo lắp, nhận dạng và kiểm tra các bộ phận của hệ thống phanh dẫn động khí nén - Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô - Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của học viên. Nội dung chính: Phanh khí được sử dụng trên xe vận tải có tải trọng lớn nguyên lý làm việc của nó là sử dụng năng lượng của không khí nén để tiến hành phanh.
Hệ thống phanh khí có ưu điểm là tạo ra lực phanh lớn, điều khiển nhẹ nhàng, có thể dùng không khí nén vào các mục đích khác như bơm hơi bánh xe, truyền động cho bộ phận gạt nước trên kính. Tuy nhiên hệ thống phanh khí tồn tại những nhược điểm như: khi có sự rò rỉ khí nén do các mối ghép không kín thì việc phục hồi khả năng phanh là khá lâu; kém an toàn, thời gian chậm tác động lớn do không khí chịu nén; kết cấu phức tạp thể hiện ở số lượng chi tiết nhiều, kích cỡ lớn. Ngoài ra hệ thống phanh khí do có sử dụng máy nén khí dẫn đến tiêu hao một phần công suất của động cơ để dẫn động máy nén khí. Kết cấu của hệ thống phanh khí gồm có cơ cấu phanh và bộ phận dẫn động phanh.
Cơ cấu phanh là bộ phận trực tiếp tạo ra sức cản chuyển động của ô tô. Còn bộ phận dẫn động phanh thì làm nhiệm vụ truyền năng lượng cho cơ cấu phanh và điều khiển cơ cấu phanh trong qúa trình phanh.1 SƠ ĐỒ VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG. Mục tiêu: Vẽ được sơ đồ và trình bày được nguyên lý hoạt động của hệ thống phanh dẫn động khí nén 4. Sơ đồ hệ thống dẫn động phanh do khí nén.
Bình chứa khí nén 2. Bộ điều chỉnh áp suất 6. Đồng hồ đo áp suất 3. Bầu phanh bánh trước 7.
Tổng van phanh 4. Bàn đạp phanh 8. Bầu phanh bánh sau. Khi áp suất trong bình đã đạt mức quy định thì máy nén khí tự động nạp.
- Bộ điều chỉnh (2) hạn chế áp suất của hệ thống trong những giới hạn đã được xác định. Đồng hồ đo áp suất (6) đặt trong buồng lái, giúp người lái theo dõi áp suất trong bình chứa khí nén.2 Nguyên lý làm việc. - Khi hãm phanh người lái đạp lên bàn đạp phanh (4) thông qua cơ cấu dẫn động thì tổng van phanh (7) mở cho khí nén từ bình chứa (5) đi vào ống dẫn khí rồi từ đó đi vào bầu phanh (3) bánh trước và bầu phanh (8) bánh sau. Màng ở trong bầu phanh truyền áp suất khí nén tới cơ cấu phanh và ép guốc phanh vào trống phanh.
- Khi không phanh bàn đạp phanh (4) trở về vị trí ban đầu, tổng van phanh ngắt liên hệ giữa bình chứa khí nén với ống dẫn để ống dẫn mở thông với khí quyển, khí nén thoát ra khỏi các bầu phanh và guốc phanh đươc nhả ra. Quá trình phanh kết thúc.2 HIỆN TƯỢNG VÀ NGUYÊN NHÂN HƯ HỎNG VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC. Mục tiêu: 81 - Giải thích được hiện tượng, nguyên nhân sai hỏng và phương pháp kiểm tra bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống phanh dẫn động khí nén. Bảng triệu chứng hư hỏng.
Triệu chứng (1) Nguyên nhân có thể (2) Biện pháp (3) Ấn Rò khí Đầu nối bị lỏng Xiết chặt đầu nối phanh khi ấn Van chính và van phụ của Tháo van phanh kép và lấy bánh phanh van phanh kép vật lạ hoặc thay van nạp xe Vòng đệm chữ O ở trong Tháo van phanh kép và không van phanh kép bị hỏng thay vòng đệm chữ O ăn Rò khí Đầu nối bị lỏng Xiết chặt đầu nối khi ấn Van chính và van phụ của Tháo van phanh kép và lấy bàn van phanh kép không kín vật lạ hoặc thay van nạp phanh khí Áp suất Rò khí Kiểm tra đường khí, sửa lại khí thấp chỗ rò Bộ điều chỉnh áp suất khí Chỉnh bộ điều chỉnh áp không đúng suất khí Máy nén khí hoạt động Tháo và sửa lại máy nén không đúng khí Phanh Dầu hoặc mỡ ở trống Rửa sạch dầu hoặc mỡ vẫn phanh và má phanh hoặc thay má phanh mới không Má phanh quá cứng hoặc Mài bề mặt má phanh hoặc ăn dù chai lì thay nó. không Khoảng hở guốc phanh Chỉnh độ hở guốc. nếu má có rò quá lớn phanh bị mòn đến mức độ khí giới hạn thì phải thay Trống Guốc Van chính và van phụ của Tháo, kiểm tra và làm sạch phanh phanh van phanh kép bị dính với van phanh kép, sửa lại vị trí quá không nhau hoặc cửa xả bị tắc bị hỏng hoặc thay nóng hồi lại, Khoảng hở guốc phanh Điều chỉnh khoảng hở guốc khi nhả nhỏ phanh bàn Lò xo hồi lực guốc phanh Thay lò xo hồi lực phanh bị gãy hoặc yếu ra (rít Chốt móc bị rỉ làm cho Tháo chốt móc và sửa lại bánh guốc phanh không hồi lại chỗ hỏng xe) được Áp suất khí ở buồng Kiểm tra van phanh kép và phanh không xả van xả nhanh 82 Trục cam bị rỉ Thôi không làm cho phanh lò xo bị kích hoạt nữa và nhả phanh ra. Triệu chứng Nguyên nhân có thể Biện pháp Ồn khi Má phanh bị mòn làm đầu Thay má phanh ấn phanh đinh tán nhô lên Má phanh quá cứng Thay má phanh Bề mặt trong của trống Mài trống phanh hoặc thay phanh mòn không đều Guốc phanh không ăn chặt Tán lại, hoặc thay má mới với má phanh Trống phanh bị lỏng Xiết đến lực quy định Chốt móc bị lỏng Xiết đai ốc hãm chốt móc đến lực xiết quy định Xe bị kéo Khoảng hở của guốc phanh Chỉnh lại khoảng hở guốc sang một không đúng hoặc má phanh.
Hoặc thay má phanh phía khi phanh ăn không đúng phanh Có dầu hoặc mỡ dính vào Rửa sạch dầu hoặc mỡ hoặc má phanh hoặc ở trên bề thay má phanh mặt trong của trống phanh Trống phanh đảo hoặc lỏng Sửa lại cho hết đảo hoặc xiết đến lực quy định Lốp xe căng không đều Bơm cho căng đều Sử dụng vật liệu của má Dùng má phanh có cùng vật phanh khác đi liệu Lò xo hồi lực guốc phanh Thay lò xo hồi lực bị yếu hoặc gãy Thay lò xo hồi lực Xiết đai ốc bu-lông chữ U đến lực quy định Áp suất khí nén đến các Kiểm tra ống dẫn đến buồng buồng phanh không đều phanh hoặc kiểm tra xem thiết bị có hoạt động đúng. Phanh đột Khoảng hở guốc phanh Chỉnh khoảng hở guốc phanh ngột nhỏ 4.3 HỆ THỐNG PHANH DẪN ĐỘNG THỦY KHÍ KẾT HỢP. Mục tiêu: 83 - Vẽ được sơ đồ và trình bày được nguyên lý hoạt động của hệ thống phanh dẫn động thủy khí kết hợp 4. Chúng ta đã biết dẫn động bằng thuỷ lực có ưu điểm độ nhạy cao nhưng hạn chế là lực điều khiển trên bàn đạp còn lớn.
Ngược lại đối với dẫn động bằng khí nén lại có ưu điểm là lực điều khiển trên bàn đạp nhỏ nhưng độ nhạy kém (thời gian chậm tác dụng lớn do khí bị nén khi chịu áp suất). Để tận dụng ưu điểm của hai loại dẫn động trên người ta sử dụng hệ thống dẫn động phối hợp giữa thuỷ lực và khí nén (hình 4. Loại dẫn động này thường được áp dụng trên các ô tô tải trung bình và lớn. Sơ đồ hệ thống dẫn động thuỷ khí kết hợp.
Sơ đồ cấu tạo chung của hệ thống bao gồm hai phần dẫn động: - Dẫn động thuỷ lực: có hai xy lanh chính dẫn hai dòng dầu đến các xy lanh bánh xe phía trước và phía sau; - Dẫn động khí nén: bao gồm từ máy nén khí, bình chứa khí, van phân phối khí và các xy lanh khí nén. - Phần máy nén khí và van phân phối hoàn toàn có cấu tạo và nguyên lý làm việc như trong hệ thống dẫn động bằng khí nén. - Phần xy lanh chính loại đơn và các xy lanh bánh xe có kết cấu và nguyên lý làm việc như trong hệ thống dẫn động thuỷ lực. Vì vậy ở đây không mô tả lại hai phần vừa nêu trên.
84 Đây là dẫn động thuỷ khí kết hợp hai dòng nên van phân phối khí là loại van kép, có hai xy lanh chính và hai xy lanh khí. Trong phần này chúng ta chỉ quan tâm và mô tả nguyên lý làm việc của cụm xy lanh chính của dẫn động thuỷ lực kết hợp với xy lanh khí của dẫn động khí nén. Nguyên lý làm việc của dẫn động thuỷ- khí kết hợp. Trạng thái chưa phanh; b.
Trạng thái khi phanh. Trong cụm này có ba phần chính: - Xy lanh chính (dẫn động thuỷ lực); - Xy lanh khí nén (dẫn động khí nén); - Van điều khiển. Xy lanh khí nén cũng được pít tông chia làm hai khoang: khoang công tác bên trái được nối tới van điều khiển; còn khoang bên phải thông với khí trời. Van điều khiển có ba cửa: một cửa lớn nối từ bình chứa khí tới; một cửa lớn nối tới khoang công tác của xy lanh khí; một cửa nhỏ (cửa điều khiển) được nối từ van phân phối khí nén đến.
85 Như vậy khí nén từ bình chứa luôn thường trực tại một cửa lớn của van điều khiển, khi van điều khiển nhận được dòng khí nén điều khiển từ van phân phối thì van điều khiển sẽ mở thông hai cửa lớn vào và ra để khí nén từ bình chứa qua van điều khiển đến khoang công tác của xy lanh khí thực hiện đẩy pít tông khí nén, thanh nối và pít tông thủy lực của xy lanh chính sang phải. Do đó dầu ở phía trước của pít tông xy lanh chính được ép tăng áp suất để dẫn tới các xy lanh bánh xe. Sở dĩ phải dùng van điều khiển để cấp dòng khí nén tới khoang công tác của xy lanh khí mà không lấy dòng khí nén trực tiếp từ van phân phối khí là để nhằm mục đích giảm tổn thất tăng độ nhạy cho phần dẫn động khí nén (giảm thời gian chậm tác dụng).