Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền tố tụng của bị cáo là người dân tộc thiểu số trong xét xử vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Chương 2. Pháp luật Việt Nam về quyền tố tụng của bị cáo là người dân tộc thiểu số trong xét xử vụ án hình sự; Chương 3. Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tố tụng của bị cáo là người dân tộc thiểu số trong thực tiễn xét xử vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỐ TỤNG CỦA BỊ CÁO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 1. Khái niệm, đặc điểm của quyền và bảo đảm quyền tố tụng của bị cáo là ngƣời dân tộc thiểu số trong xét xử vụ án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm quyền tố tụng của bị cáo là người dân tộc thiểu số xét xử vụ án hình sự (i) Lý luận tiếp cận quyền trong bảo đảm quyền của bị cáo là người dân tộc thiểu số Xét dưới góc độ quyền con người và quyền của các dân tộc thiểu số, hệ thống pháp luật quốc tế và của các quốc gia đã có những bước phát triển và tiến bộ đáng kể. Bên cạnh những quy định bảo đảm quyền con người nói chung còn có những điều luật quy định đặc thù và các chính sách cụ thể như chính sách về đất đai, giáo dục, y tế, vay vốn tạo việc làm, chính sách bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc rất ít người.
nhằm bảo đảm quyền và thúc đẩy thực thi quyền cho các đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số, phấn đấu cho mục tiêu chung là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Tiếp cận dựa trên quyền con người (HRBA) là phương pháp tiếp cận lấy các tiêu chuẩn về quyền con người làm cơ sở để xác định kết quả mong đợi và lấy các nguyên tắc về quyền con người làm điều kiện, khuôn khổ cho quá trình đạt được kết quả đó. Sử dụng các tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người làm cơ sở và mục tiêu cho hoạt động là đích mà cách tiếp cận dựa trên quyền con người hướng tới. Khác với cách tiếp cận khác, tiếp cận dựa trên quyền con người không chỉ quan tâm tới việc đạt được mục tiêu mà còn quan tâm thích đáng tới quy trình, cách thức được lựa chọn để đạt được những mục 7 tiêu đó với mục đích hỗ trợ người dân tham gia tích cực vào phát triển, không phải chỉ là người hưởng lợi thụ động từ các chính sách của nhà nước.
Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật. Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có (nguồn gốc tự nhiên) hay phải do các nhà nước quy định (nguồn gốc pháp lý), thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật. Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người (các quyền tự nhiên) không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc cư xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất với cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội. Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý.
Thực tế cho thấy, với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người - cùng với quyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó - luôn là đối tượng phản ánh của các hệ thống pháp luật. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân. Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Vai trò của pháp luật với quyền con người thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau: - Pháp luật là phương tiện chính thức hoá, pháp lý hoá giá trị xã hội của các quyền tự nhiên: Mặc dù được thừa nhận song thông thường các quyền tự nhiên không mặc định được áp dụng trực tiếp trong xã hội.
Về nguyên tắc, các nhà nước trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiện những quyền pháp lý - tức những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Như vậy, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền tự nhiên 8 mới chuyển thành những quyền con người có đầy đủ giá trị hiện thực. Pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hoá đó. Nó có sứ mệnh cao cả là biến những nghĩa vụ đạo đức về tôn trọng và thực hiện các quyền tự nhiên thành các nghĩa vụ pháp lý (hay các quy tắc cư xử chung do Nhà nước cưỡng chế thực hiện), từ đó xã hội hoá giá trị của các quyền tự nhiên của con người.
- Pháp luật là phương tiện bảo đảm giá trị thực tế của các quyền con người: Như đã đề cập, chỉ khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyền con người mới mang tính bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội. Ở đây, pháp luật đóng vai trò là công cụ giúp Nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con người của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc vận dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế có liên quan. Theo đó, quyền con người được hiểu là tổng hợp các quyền và các tự do cơ bản để đánh giá về địa vị pháp lí của cá nhân [20]. Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [24].
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu quyền con người là những chuẩn mực, giá trị mang tính tự nhiên, khách quan, phổ biến, là sản phẩm của quá trình đấu tranh và phát triển của con người, gắn với sự phát triển của cộng 9 đồng xã hội và được được ghi nhận và bảo vệ bởi luật quốc gia và luật quốc tế, phù hợp với tiến bộ xã hội. Khi một người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, do yêu cầu của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm các cơ quan tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn và ban hành các quyết định áp dụng pháp luật để tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố và xét xử. Trong mỗi giai đoạn tố tụng, người thực hiện hành vi phạm tội đó có những tư cách nhất định. Từ khi bị can bị Tòa án ra quyết định xét xử vụ án thì tư cách bị cáo của người đó xuất hiện.
Như vậy có thể hiểu bị cáo là người bị cáo buộc thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự, bị VKS truy tố bằng cáo trạng thông qua quyết định truy tố và bị Tòa án đưa ra xét xử. Với tư cách là cá nhân, công dân, trên cơ sở nguyên tắc suy đoán vô tội, bị cáo mới chỉ bị coi là người bị tình nghi và bị cáo buộc (từ phía Viện kiểm sát) đã thực hiện tội phạm. Như vậy, trước hết bị cáo có đầy đủ các quyền con người theo quy định của pháp luật.
Nhà nước và các chủ thể khác phải tôn trọng và Nhà nước phải đảm bảo thực hiện các quyền đó trên thực tế. Hiện có nhiều quan niệm khác nhau về quyền của bị cáo được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng quyền của bị cáo là những bảo đảm pháp lý được ghi nhận trong pháp luật, cho phép bị cáo sử dụng các quyền đó để thực hiện các quyền khác hay chống lại sự vi phạm các quyền. Tuy nhiên, quan niệm được nhiều học giả thừa nhận cho rằng quyền của bị cáo là sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người, quyền công dân khi một người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS, đã bị VKS ra quyết định truy tố và Tòa án ra quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử.
Vì thế, Nhà nước, các cơ quan nhà nước, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác có trách nhiệm phải bảo đảm các quyền của bị cáo. 10 Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: Quyền của bị cáo là những giá trị, nhu cầu và lợi ích hợp pháp vốn có của bị cáo, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và quốc gia được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử. (iii) Đặc điểm về quyền của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự Từ khái niệm trên đây, có thể rút ra một số đặc điểm về quyền của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự như sau: Vị trí và vai trò của bị cáo khi tham gia tố tụng, theo BLTTHS 2015 tương đối mờ nhạt và chủ yếu được thực hiện trong giai đoạn xét xử của toà án. Tuy nhiên đến BLTTHS 2015 Với quyền được tham gia các hoạt động TTHS theo quy định của BLTHHS 2015 thì vai trò của bị cáo đã được chú trọng và nâng cao.
Bị cáo được hưởng một số quyền như quyền loại trừ chứng cứ phạm tội nếu quá trình thu thập chứng cứ bị vi phạm. Việc thẩm vấn bị cáo phải tuân theo nguyên tắc, khi thẩm vấn về tình trạng cá nhân chỉ hạn chế trong những thông tin cần thiết để nhận dạng, danh tính.