Đảm Bảo Quyền Lợi Của Người Lao Động Trong Quá Trình Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Nhà Nước

Luận văn thạc sĩ phân tích quyền lợi người lao động trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đề xuất giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2012

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1. Sự cần thiết phải CP hoá DNNN ở Việt Nam

1.2. CP hoá DNNN một câu hỏi khách quan của công cuộc đổi mới

1.3. Tình trạng hoạt động kém hiệu quả của DNNN

1.4. Tài chính nghèo nàn của các DNNN làm tăng sự phụ thuộc của chúng vào ngân sách nhà nước

1.5. Các DNNN ta rất yếu về khả năng cạnh tranh

1.6. Khái niệm và vai trò DNNN

1.6.1. Khái niệm DNNN

1.6.2. Vai trò của DNNN

1.7. CPH và bản chất của việc CP hoá DNNN

1.7.1. CPH và mục tiêu của việc CPH

1.8. Những tác động của CPH DNNN đối với NLĐ

1.8.1. Những tác động tích cực

1.8.2. Những tác động tiêu cực

1.9. Phương thức bảo vệ NLĐ trong quá trình CPH DNNN

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

2.1. Quyền mua CP trong DN CPH của NLĐ

2.2. Bán, chuyển nhượng CP ưu đãi

2.3. Chế độ đối với NLĐ tiếp tục làm việc trong DNNN sau khi CPH

2.3.1. Lương và phụ cấp lương dành cho NLĐ

2.3.2. Thang bảng lương, phụ cấp lương trong các DNNN thực hiện CPH

2.3.3. Lương tối thiểu vùng

2.4. Chế độ bảo hiểm xã hội và một số quyền lợi vật chất khác

2.5. Thực hiện chế độ dân chủ tại DNNN CPH

2.6. Chế độ đối với NLĐ dôi dư khi CPH

2.6.1. Chế độ đối với NLĐ trong Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội làm chủ sở hữu thực hiện CPH

2.6.2. Chế độ đối với NLĐ trong DNNN khác thực hiện CPH

2.6.3. Nguồn kinh phí và trách nhiệm chi trả chế độ cho NLĐ

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

3.1. Những yêu cầu về đảm bảo quyền lợi của NLĐ khi CPH DNNN trong giai đoạn hiện nay

3.1.1. Đảm bảo yếu tố công bằng trong thực hiện chính sách đối với NLĐ

3.1.2. Đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện một cách nghiêm túc

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trong quá trình CPH DNNN

3.2.1. Phương hướng hoàn thiện chính sách bán CP ưu đãi cho NLĐ

3.2.2. Phương hướng hoàn thiện chính sách tiền lương

3.2.3. Một số đề xuất nhằm phát huy dân chủ tại Công ty CP

3.3. Phương hướng giải quyết đối với lao động dôi dư

3.4. Phát huy vai trò của Công đoàn trong vấn đề bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Cổ Phần Hóa DNNN Bảo Vệ Quyền Lợi NLĐ

Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới kinh tế. Mục tiêu chính là nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, huy động vốn từ xã hội và tạo động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề bảo đảm quyền lợi người lao động. Việc làm, thu nhập, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động cần được bảo vệ một cách thỏa đáng trong quá trình CPH. Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Khoá VII, việc CPH phải được thực hiện thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng. Điều này cho thấy sự thận trọng và quan tâm đến các vấn đề xã hội, trong đó có quyền lợi người lao động, khi thực hiện CPH.

1.1. Sự Cần Thiết Cổ Phần Hóa DNNN Hiện Nay

CPH DNNN là một yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới, xuất phát từ tình trạng hoạt động kém hiệu quả, tài chính nghèo nàn và khả năng cạnh tranh yếu của nhiều DNNN. Việc CPH giúp giải phóng nguồn lực, thu hút vốn đầu tư và nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp. Đồng thời, CPH cũng tạo cơ hội cho người lao động tham gia sở hữu doanh nghiệp, gắn bó lợi ích của họ với sự phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần có chính sách bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong quá trình này.

1.2. Tác Động Của Cổ Phần Hóa Đến Người Lao Động

CPH DNNN có thể mang lại cả tác động tích cực và tiêu cực đối với người lao động. Về mặt tích cực, CPH có thể tạo ra nhiều việc làm mới, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện làm việc. Về mặt tiêu cực, CPH có thể dẫn đến tình trạng dôi dư lao động, giảm thu nhập hoặc mất việc làm. Do đó, cần có các giải pháp đồng bộ để giảm thiểu tác động tiêu cực và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

II. Thách Thức Bảo Vệ Việc Làm Khi Cổ Phần Hóa DNNN

Một trong những thách thức lớn nhất trong quá trình CPH DNNN là bảo vệ việc làm cho người lao động. CPH thường đi kèm với tái cơ cấu, sắp xếp lại bộ máy, dẫn đến tình trạng dôi dư lao động. Việc giải quyết vấn đề lao động dôi dư một cách hợp lý, đảm bảo quyền lợi về việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác là một bài toán khó. Theo số liệu thống kê, số lượng lao động dôi dư trong các DNNN sau CPH còn khá lớn, gây ra nhiều bức xúc trong dư luận xã hội. Cần có các giải pháp đồng bộ, từ đào tạo lại nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới đến các chính sách an sinh xã hội để giúp người lao động vượt qua giai đoạn khó khăn.

2.1. Thực Trạng Lao Động Dôi Dư Sau Cổ Phần Hóa

Tình trạng lao động dôi dư sau CPH là một vấn đề nhức nhối, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người lao động. Nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu tổ chức, công nghệ sản xuất thay đổi, đòi hỏi người lao động phải có trình độ chuyên môn cao hơn. Nhiều người lao động không đáp ứng được yêu cầu mới, dẫn đến tình trạng mất việc làm. Cần có các giải pháp đào tạo lại, nâng cao tay nghề để giúp người lao động thích ứng với môi trường làm việc mới.

2.2. Giải Pháp Xử Lý Lao Động Dôi Dư Hợp Lý

Việc xử lý lao động dôi dư cần được thực hiện một cách công khai, minh bạch, đảm bảo quyền lợi về bồi thường, trợ cấp và các chế độ khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, công đoàn và các cơ quan nhà nước để tìm kiếm việc làm mới cho người lao động. Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn việc làm và cung cấp các khoản vay ưu đãi cho người lao động.

III. Chính Sách Đảm Bảo Quyền Lợi Về Tiền Lương BHXH

Ngoài vấn đề việc làm, quyền lợi về tiền lương và bảo hiểm xã hội (BHXH) cũng là một mối quan tâm lớn của người lao động trong quá trình CPH DNNN. CPH có thể dẫn đến thay đổi về cơ chế trả lương, thang bảng lương và các chế độ phụ cấp. Việc đảm bảo tiền lương hợp lý, công bằng, phù hợp với năng lực và hiệu quả làm việc là rất quan trọng. Đồng thời, cần đảm bảo người lao động được tham gia BHXH đầy đủ, liên tục, không bị gián đoạn do quá trình CPH. Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp sau CPH phải kế thừa mọi nghĩa vụ đối với người lao động từ DNNN chuyển sang, bao gồm cả nghĩa vụ đóng BHXH.

3.1. Cơ Chế Tiền Lương Sau Cổ Phần Hóa

Cơ chế tiền lương sau CPH cần được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, đảm bảo tính công khai, minh bạch và phù hợp với quy định của pháp luật. Doanh nghiệp có thể áp dụng các hình thức trả lương khác nhau, như trả lương theo thời gian, trả lương theo sản phẩm hoặc trả lương khoán. Tuy nhiên, cần đảm bảo mức lương tối thiểu không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định.

3.2. Bảo Đảm Quyền Lợi BHXH Cho Người Lao Động

Doanh nghiệp sau CPH phải có trách nhiệm đóng BHXH đầy đủ, kịp thời cho người lao động theo quy định của pháp luật. Người lao động có quyền được hưởng các chế độ BHXH như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, cần có sự can thiệp của các cơ quan nhà nước để đảm bảo quyền lợi về BHXH cho người lao động.

3.3. Quyền Mua Cổ Phần Ưu Đãi Cho Người Lao Động

Một trong những chính sách bảo đảm quyền lợi quan trọng là cho phép người lao động được mua cổ phần ưu đãi trong doanh nghiệp CPH. Điều này giúp người lao động trở thành cổ đông, gắn bó lợi ích của họ với sự phát triển của doanh nghiệp và có quyền tham gia vào quản lý, điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần có quy định rõ ràng về đối tượng được mua cổ phần, số lượng cổ phần được mua và giá ưu đãi để đảm bảo tính công bằng, minh bạch.

IV. Pháp Luật Hoàn Thiện Để Bảo Vệ Quyền Lợi NLĐ Tốt Hơn

Hệ thống pháp luật về CPH DNNN đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật để đảm bảo các quy định được thực thi một cách nghiêm túc, hiệu quả. Đặc biệt, cần tăng cường vai trò của công đoàn trong việc giám sát việc thực hiện các chính sách đối với người lao động trong quá trình CPH. Theo Luật Doanh nghiệp, công đoàn có quyền tham gia vào các quyết định quan trọng của doanh nghiệp, như quyết định về tiền lương, thưởng, kỷ luật và chấm dứt hợp đồng lao động.

4.1. Rà Soát Sửa Đổi Các Quy Định Pháp Luật

Cần rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về CPH DNNN để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, cần bổ sung các quy định cụ thể về quyền của người lao động khi cổ phần hóa, trách nhiệm của doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

4.2. Tăng Cường Vai Trò Giám Sát Của Công Đoàn

Công đoàn cần phát huy vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Công đoàn cần tham gia tích cực vào quá trình CPH, từ việc xây dựng phương án CPH đến việc giám sát việc thực hiện các chính sách đối với người lao động. Đồng thời, công đoàn cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người lao động để họ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình.

V. Kinh Nghiệm Bài Học Từ Các Vụ Cổ Phần Hóa Thành Công

Nghiên cứu kinh nghiệm CPH DNNN ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam có thể giúp chúng ta rút ra những bài học quý giá. Các vụ CPH thành công thường có đặc điểm chung là có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, minh bạch thông tin, đảm bảo quyền lợi của người lao động và có sự tham gia tích cực của các bên liên quan. Ngược lại, các vụ CPH thất bại thường do thiếu minh bạch, không đảm bảo quyền lợi của người lao động và không có sự đồng thuận của xã hội. Cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

5.1. Bài Học Về Minh Bạch Thông Tin

Minh bạch thông tin là yếu tố then chốt để đảm bảo sự thành công của quá trình CPH. Doanh nghiệp cần công khai, minh bạch thông tin về tình hình tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh và các chính sách đối với người lao động. Điều này giúp tạo sự tin tưởng, đồng thuận của người lao động và các nhà đầu tư.

5.2. Bài Học Về Đảm Bảo Quyền Lợi NLĐ

Đảm bảo quyền lợi của người lao động là yếu tố quan trọng để tạo sự ổn định xã hội và đảm bảo sự thành công của quá trình CPH. Doanh nghiệp cần có các chính sách cụ thể để bảo vệ việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động.

VI. Tương Lai Cổ Phần Hóa DNNN Hướng Đến Phát Triển Bền Vững

CPH DNNN là một quá trình liên tục, không ngừng hoàn thiện. Trong tương lai, CPH cần hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Việc bảo vệ quyền lợi người lao động cần được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu. Cần xây dựng một mô hình CPH hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Theo định hướng của Đảng và Nhà nước, CPH DNNN phải gắn liền với tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

6.1. Mô Hình Cổ Phần Hóa Hài Hòa Lợi Ích

Cần xây dựng một mô hình CPH hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả hoạt động và người lao động cần được đảm bảo quyền lợi hợp pháp.

6.2. Cổ Phần Hóa Gắn Với Phát Triển Bền Vững

CPH cần gắn với phát triển bền vững, không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp cần có trách nhiệm xã hội, quan tâm đến đời sống của người lao động và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CP hoá DNNN Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CP hoá DNNN Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CP hoá DNNN 4 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Sự cần thiết phải CP hoá DNNN ở Việt Nam Quá trình CPH DNNN không phải là một quá trình ngẫu nhiên, mà đằng sau nó là những nguyên nhân khiến cho hầu hết các Chính phủ đều đi đến các quyết định CP hoá các DNNN. Đối với Việt Nam, CP hoá là giải pháp tối ưu cho quá trình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả của DNNN. Sự cần thiết phải CP hoá DNNN là do: 1.

CP hoá DNNN một câu hỏi khách quan của công cuộc đổi mới Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp do hoàn cảnh lịch sử đất nước chúng ta là một nước bị chiến tranh tàn phá nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu kinh tế tư nhân chưa có điều kiện phát triển, lúc đó toàn dân đang dồn sức xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Thời kỳ đó DNNN chỉ hình thành tồn tại dưới hai hình thức là: Hình thức sở hữu tập thể ( các hợp tác xã) và các DNNN. Trong thời gian này nhà nước tham gia hoạt động ở tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều do nhà nước giữ quyền chỉ đạo và chi phối, hai hình thức DNNN này tồn tại và phát triển trong một thời gian dài, rất thích hợp với nền kinh tế nước ta trong thời gian này. Nhưng sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế tham gia thì hai hình thức DNNN này không còn hiệu quả và bộc lé những mặt hạn chế của nó do đó cần có sự đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN này.

Những biện pháp nhằm đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của DN bao gồm: Chuyển một số công ty nhà nước đủ điều kiện thành công ty CP một số sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 5 z giao bán khoán cho thuê, những công ty không thực hiện được việc chuyển sang CP trách nhiệm hưu hạn thì giải quyết theo thủ tục giải thể công ty nhà nước. Còn lại Nhà nước chỉ tham gia vào những lĩnh vực kinh tế then chốt như vận tải đường không bán buôn thuốc phòng bệnh chữa bệnh, bán buôn xăng dầu. Còn lại giao cho mọi thành phần kinh tế nắm giữ hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ chịu sự điều tiết của nhà nước về pháp luật và thuế. Nguyên nhân này bắt nguồn từ sự thay đổi về nhận thức, về quan điểm về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Trước đây, do nhận thức sai lầm, xem nhẹ các quy luật kinh tế thị trường, coi nó là riêng có của chủ nghĩa tư bản, quá coi trọng sở hữu toàn dân, dẫn đến tình trạng trì trệ và thiếu động lực hoạt động của NLĐ cũng như chính DN. Vì vậy vấn đề đa dạng hoá sở hữu được đặt ra và thực hiện.Tình trạng hoạt ðộng kém hiệu quả của DNNN. Đây có lẽ là nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các chính phủ phải đưa ra quyết định CP hoá. Các DNNN đã không thể hiện và phát huy được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường.

Mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phía Nhà nước, sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế, nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ được tính hiệu quả của mình so với khu vực dân doanh, chưa đáp ứng được mong muốn của Đảng và Nhà nước, chưa tương xứng với tiềm lực và ưu đãi do Nhà nước dành cho. Trong tất cả các DNNN, chỉ một số ít là làm ăn có lãi, còn lại là thua lỗ hoặc lói không đáng kể.3 Tài chính nghèo nàn của các DNNN làm tăng sự phụ thuộc của chúng vào ngân sách nhà nước Nguyên nhân này là hệ quả trực tiếp của nguyên nhân trên. DNNN từ chỗ là đóng góp phần lớn cho ngân sách nhà nước giờ lại trở thành gánh nặng. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy việc tiến hành CP hoá, vì các 6 z khoản trợ cấp cho các DN ngày càng lớn, làm giảm nguồn lực để phát triển các ngành khác.

Các DNNN ta rất yếu về khả năng cạnh tranh Có nhiều ngành, sản phẩm của DNNN đang được ưu đãi độc quyền hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ, miễn thuế…) nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ khả năng cạnh tranh của mình. Khả năng cạnh tranh kém của các DNNN thể hiện ngay trên thị trường nội địa: ở những ngành có khả năng sinh lợi, thị phần của các DNNN có xu hướng giảm sút nhường chỗ cho khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân… Tình trạng này nếu không được cải thiện sẽ ảnh hưởng không những đối với DN mà còn là gánh nặng của Nhà nước phải bù lỗ cho các DN này. CPH chính là giải pháp tối ưu được lựa chọn để giải quyết các vấn đề trên. Khái niệm và vai trò DNNN 1.1 Khái niệm DNNN Luật DNNN do Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995 đưa ra khái niệm có tính pháp lý về DNNN như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.

DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý. DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam”. Định nghĩa trên cho thấy DNNN có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, DNNN là tổ chức kinh tế được Nhà nước thành lập để thực hiện những mục tiêu do Nhà nước giao. Hai là, DNNN do Nhà nước đầu tư vốn cho nên tài sản trong DN là thuộc sở hữu Nhà nước, DN quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là Nhà nước.

7 z Ba là, DNNN có tư cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp nhân theo quy định của pháp luật. Bốn là, DNNN là DN chịu trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là nó tự chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số tài sản do DN quản lý. Định nghĩa trên về cơ bản phù hợp với thực tế môi trường và hoạt động của các DNNN ở Việt Nam, phù hợp với xu thế chung của thế giới trong vấn đề quan niệm về DNNN. Năm 2003 khái niệm DNNN được phát triển sâu hơn, cụ thể Điều 1 Luật DNNN năm 2003 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc vốn CP, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn”.

Định nghĩa này cùng với các quy định khác của Luật DN năm 2003 chứa đựng một số điểm mới cơ bản sau: Thứ nhất, nếu trước đây tiêu chí sở hữu được coi là cơ bản nhất, quyết định nhất khi xác định DNNN thì tiêu chí bây giờ là quyền kiểm soát và chi phối DNNN, vì vậy nếu chỉ dựa vào tiêu chí sở hữu nhiều khi khó phân biệt DNNN với các loại hình DN khác. Định nghĩa đã thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu trong một DNNN, đây là một bước tiến lớn trong quan niệm về DNNN, cho thấy sự đa dạng trong sở hữu và sự tự chủ hơn của DNNN từ đó tạo ra sự đa dạng về hình thức tồn tại của DNNN sẽ làm sinh động hơn thành phần kinh tế công, tạo sự thích nghi tốt hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, pháp luật hiện hành thừa nhận chuyển đổi DNNN thành DN thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng, mua bán CP.2 Vai trò của DNNN DNNN hiện đang được quan tâm đặc biệt vì vai trò và sứ mệnh của 8 z chúng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Vai trò của DNNN bắt nguồn từ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đang phấn đấu thực hiện.

Đảng nhấn mạnh vai trò kinh tế Nhà nước với bộ phận chủ yếu là DNNN. Với tư cách là bộ phận nòng cốt của thành phần kinh tế công, DNNN đương nhiên giữ vị trí trọng yếu của kinh tế Nhà nước, vì thế có thể coi chúng có ý nghĩa quan trọng trong vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Vai trò của hệ thống DNNN gắn liền với việc tham gia vào hoạt động kinh tế của Nhà nước. Vai trò này thể hiện trên ba khía cạnh: kinh tế, chính trị và xã hội.

Nội dung của vai trò này được thể hiện như sau: Thứ nhất, DNNN chi phối sự phát triển trong các lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa đối với sự phát triển ổn định của đất nước. Đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: cung ứng các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, nhất là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, điện, nước, thông tin liên lạc,…), xã hội (giáo dục, y tế,…) và an ninh quốc phòng. Thứ hai, DNNN là công cụ tạo ra sức mạnh vật chất để Nhà nước giữ vững sự ổn định xã hội, điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. DNNN là nguồn lực vật chất chủ yếu của Nhà nước, đóng góp quyết định cho ngân sách nhà nước.

DNNN là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mở đường, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, lôi cuốn các DN thuộc các thành phần kinh tế khác vào quỹ đạo đi lên chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Bảo Đảm Quyền Lợi Người Lao Động Trong Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Nhà Nước cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động, từ đó tạo ra một môi trường làm việc công bằng và bền vững. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các chính sách và quy định liên quan, cũng như những lợi ích mà người lao động có thể nhận được trong quá trình chuyển đổi này.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn hà nội. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Khám phá thêm những tài liệu liên quan sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền lợi của người lao động trong các mô hình doanh nghiệp khác nhau.