CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC KHAI SINH CỦA CÁ NHÂN 1. Khái niệm, đặc điểm và sự ảnh hưởng của quyền được khai sinh của cá nhân 1.1 Khái niệm của quyền được khai sinh của cá nhân Trong từ ngữ tiếng việt thì khai sinh là hành động nhằm khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền những thông tin cần thiết về việc một đứa trẻ mới được sinh ra, một sự kiện pháp lý phát sinh. Theo từ điển luật học "Khai sinh là việc khai báo và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận một cá nhân được sinh ra; là một trong những sự kiện hộ tịch để xác định cá nhân là thực thể của tự nhiên, của xã hội"2. Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân được ghi nhận trong pháp luật về dân sự Việt Nam: "Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh"3 Mỗi cá nhân sinh ra đều có quyền được khai sinh, tức là quyền được công nhận về sự ra đời và tồn tại của họ.
Có thể nói đây là quyền nhân thân quan trọng đầu tiên của cá nhân kể từ khi sinh ra. Nguyên nhân là do quyền được khai sinh là nền tảng đầu tiên giúp cho cá nhân có thể thực hiện các quyền được khai sinh khác như, quyền có họ, tên, quốc tịch … Chính nhờ quyền được khai sinh được công nhận mà cá nhân trở thành chủ thể độc lập của xã hội, phân biệt cá nhân với cá nhân khác. Quyền được khai sinh được quy định trong Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp năm 1919 như sau: "Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày sinh trẻ, việc khai sinh cho trẻ phải được thực hiện trước viên chức hộ tịch tại nơi trẻ sinh ra".4 2 Bộ Tư Pháp – Viện Khoa Học Pháp Lý (2005), Từ Điển Luật Học, Nhà xuất bản Từ Điển Bách Khoa - Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội." 3 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015 4 Điều 55 Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp 8 Điều đó giải thích cho lý do vì sao mà quyền này được quy định trong pháp luật nước ta cũng như pháp luật quốc tế như Luật Trẻ em năm 2016, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em cũng như Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều khẳng định rằng cá nhân khi sinh ra đều phải được khai sinh, thể hiện sự đặc biệt quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với quyền được khai sinh. Theo khoản 2 Điều 24 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: "Mọi trẻ em đều được đăng ký khai sinh ngay sau khi ra đời và phải có tên gọi"5.
Không chỉ được quy định trong các công ước chung, áp dụng cho nhiều đối tượng như Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, quyền được khai sinh còn được ghi nhận trong Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em như một khẳng định việc bảo hộ "quyền được khai sinh của cá nhân" là một việc không thể thiếu trong pháp luật quốc tế. Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em tại Khoản 1 Điều 7 được quy định như sau: "Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời, và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc"6. Khi tham gia vào các công ước quốc tế, mỗi quốc gia tùy theo điều kiện cụ thể của mình cũng quy định về bảo đảm quyền được khai sinh như bảo đảm quyền nhân thân cơ bản, không thể thiếu trong pháp luật dân sự. Việt Nam cũng không ngoại lệ, vừa là thành viên của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 vừa là thành viên Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em, quyền được khai sinh đã được khi nhận từ rất sớm trong Bộ luật dân sự đầu tiên của nước ta tại Điều 55: "Mọi người khi sinh ra đều có quyền được khai sinh không phân biệt sinh trong giá thú hoặc ngoài giá thú"7.
Ở nước ta hiện nay, quyền được khai sinh không chỉ được quy định trong pháp luật về dân sự: "Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh" mà còn được quy định trong Luật trẻ em năm 2016 tại Điều 13: "Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, 5 Khoản 2 Điều 24 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966" 6 Khoản 1 Điều 7 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989" 7 Bộ luật dân sự năm 1995 9 có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật"8 và Luật Hộ tịch 2014 tại điều 15: "Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con"9. Việc quy định về quyền được khai sinh trong nhiều văn bản luật khác nhau chứng tỏ sự quan tâm của nhà nước đến "quyền được khai sinh của cá nhân", đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, quản lý tốt về biến động dân số từ đó đưa ra các chính sách phù hợp. Tóm lại, theo quan điểm của tác giả quyền được khai sinh của cá nhân là quyền của cá nhân từ khi sinh ra được khai báo danh tính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ đó xác định được tư cách chủ thể của cá nhân đó. Quyền này thường được thực hiện bởi một chủ thể khác.2 Đặc điểm của quyền được khai sinh Quyền được khai sinh là một quyền cơ bản của cá nhân, đó là quyền liên quan đến nhân thân không thể xâm phạm.
Mỗi quốc gia đều có trách nhiệm bảo đảm "quyền được khai sinh của cá nhân". Quyền được khai sinh của cá nhân là quyền nhân thân. Do đó, quyền được khai sinh sẽ mang đầy đủ các đặc điểm của quyền được khai sinh, cụ thể: Đặc điểm thứ nhất "Quyền được khai sinh là quyền dân sự". Quyền được khai sinh là một quyền dân sự và là quyền dân sự đặc biệt.
Cá nhân là chủ thể chính, thường xuyên, quan trọng và phổ biến trong các quan hệ pháp lý dân sự. Nguyên nhân của việc gọi quyền được khai sinh là quyền dân sự đặc biệt là vì những quyền này chỉ thuộc về cá nhân, một cá nhân duy nhất và được quy định bởi pháp luật, trong khi các quyền khác ví dụ như quyền sở hữu tài sản có thể thuộc về các chủ thể khác. Đặc điểm thứ hai "Quyền được khai sinh gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao cho chủ thể khác". Điều này đã được pháp luật về dân sự hiện hành thừa nhận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
"Quyền nhân thân 8 Luật Trẻ em năm 2016 9 Luật Hộ tịch năm 2014." 10 về bản chất là gắn liền với một chủ thể nhất định, đó là điều kiện cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện bộ mặt xã hội của chủ thể, được chuyển giao cho người khác nó trở nên vô nghĩa"10. Quyền được khai sinh sẽ luôn được giữ nguyên và không mất đi ngay cả khi chủ thể không sử dụng trong một thời gian dài. Về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể chuyển giao quyền được khai sinh cho chủ thể khác, nói cách khác quyền được khai sinh không phải là đối tượng của giao dịch dân sự giữa các chủ thể. Điều đó có nghĩa là, chủ thể có quyền chính là chủ thể thụ hưởng quyền, cũng không ai có thể đại diện họ thực hiện quyền.
Đặc điểm thứ ba "Quyền được khai sinh là một quyền phi tài sản". Trong khoa học pháp lý cũng như trên thực tế, thuật ngữ quyền được khai sinh chưa bao giờ là tài sản, chỉ có quyền được khai sinh gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi. Giá trị của quyền được khai sinh không thể được xác định bằng tiền. Quyền được khai sinh không thể định giá được bằng bất kỳ giá trị vật chất nào, bởi vì nó là một giá trị phi vật chất, không thể cân đong đo đếm được.
Khác với quyền tài sản, đối tượng của quyền được khai sinh là giá trị tinh thần. Giá trị tinh thần và tiền tệ không bao giờ có thể được coi là tương đương và không thể trao đổi ngang giá. Giá trị phi vật chất là đối tượng của quyền được khai sinh hướng đến việc cá biệt hóa của chủ thể mang quyền, làm cho cá nhân đó trở thành duy nhất và không thể lặp lại"11. Đặc điểm thứ tư "Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền được khai sinh".
Kể từ khi sinh, tất cả mọi người đều có quyền được khai sinh bình đẳng, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, địa vị xã hội hay bất kỳ điều kiện nào khác. Nguyên tắc bình đẳng trong pháp luật dân sự là mỗi chủ thể đều có năng lực pháp luật như nhau. Đây là nguyên tắc đã được hiến pháp quy định và được cụ thể hóa trong Bộ luật dân sự hiện hành. Các chủ thể sẽ không bao giờ vì lý do khác biệt về 10 Nguyễn Ngọc Điện (2022), Giáo trình Luật dân sự (tr.Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
11 Nguyễn Thị Quế Anh (2011), Một số vấn đề về ghi nhận và bảo vệ các giá trị nhân thân trong pháp luật dân sự, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Hà Nội." 11 dân tộc, tôn giáo, giới tính mà bị đối xử khác nhau, sự bảo hộ của pháp luật cũng là như nhau. Đặc điểm thứ năm "Quyền được khai sinh là một quyền dân sự luật định, không cho phép cá nhân hạn chế quyền của mình cũng như hạn chế quyền được khai sinh của người khác". Xét phương diện khoa học pháp lý hay thực tiễn áp dụng pháp luật về dân sự có quyền này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác lập và bảo vệ quyền của cá nhân. Pháp luật dân sự được thiết lập trên nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể, không cho phép bất kỳ sự can thiệp không có cơ sở nào vào quyền được khai sinh của cá nhân.
Cá nhân có quyền thực hiện quyền được khai sinh của mình dựa trên ý chí của riêng mình, mà không bị bất kỳ chủ thể nào can thiệp một cách tùy tiện, trừ những trường hợp vì lợi ích cộng đồng, an ninh, hoặc quốc phòng.