chương 1, người Nga chịu ảnh hưởng lớn từ tư tưởng Chính thống giáo nên họ luôn hướng đến “vẻ đẹp trí tuệ của 16 thế giới tinh thần”, luôn nhận thấy thế giới này không hoàn hảo và cần tìm kiếm những cái hoàn hảo hơn. Từ cách tư duy này, các nhà văn Nga và đặc biệt là I.Bunin khi xây dựng nhân vật luôn đặt họ trong các cuộc hành trình. “ Hành trình” ở đây có thé hiểu chủ yếu là hành trình trong tư tưởng, tim đến sự hoàn thiện vẻ đẹp tâm hồn, hoặc phục sinh, cứu rỗi tâm hồn vốn đã già cỗi, đã khô héo. Do đó theo chúng tôi “hành trình” của người Nga gắn liền với một cổ mẫu văn hóa.
Cổ mẫu/ mẫu gốc (archetype) là một trong những khái niệm trung tâm của trường phái “tâm lý học phân tích” do nhà tâm lý học Thụy Sĩ C. Đây cũng là một khái niệm mỹ học được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa sử dụng. “Vô thức tập thể” và “vô thức cá nhân” được coi như là hai “từ khóa” (key words) định hình nên khái niệm “cổ mẫu”. “Các mẫu gốc là những yếu tô cau trúc của tâm thần con người, được an giấu trong “vô thức tập thé”.
Chúng ấn định cấu trúc chung của nhân cách và tính nhất quán của những hình ảnh bộc lộ ra trong ý thức do kích thích của hoạt tính sáng tạo; vì vậy đời sống tinh thần luôn mang trong mình những dấu vết mẫu gốc”. Theo Jung những cổ mẫu của cái vô thức tập thé không giống như hình ảnh hoặc biểu tượng văn hóa: “Cổ mẫu — đó không phải là hình ảnh, ma là một cảm xúc nền tảng nào đó, một “khát khao” nào đó của tâm lý con người ma tự thân không có bat kỳ tinh vật thể nào (còn hình ảnh thì luôn luôn có tính vật thể)” [30, tr. Các cô mẫu là nền tảng xây dựng toàn bộ tâm lý con người. Bunin khi xây dựng hình ảnh nhân vật vẫn chịu ảnh hưởng của kiểu cổ mẫu truyền thống vốn tồn tại trong văn hóa Nga, cổ mẫu vốn tồn tại trong Chính thống giáo: “thử thách - tìm thấy”.Bunin cũng giống như một cuộc phiêu lưu, một chuỗi hành trình bat tận.
Năm 1888, chàng thanh niên I.Bunin đã phải rời “tổ quý tộc” đang lui tàn của mình đê bat đâu cuộc sông. Kê từ đó, ông chưa khi nao tìm 17 được cho mình một mái 4m, nơi nghỉ chân của ông chỉ là nhà khách, quán trọ.Bunin lại lênh đênh trên tàu sang Pháp, mãi mãi rời xa nước Nga, sống những tháng ngày còn lại với nỗi nhớ nhung hướng về Tổ quốc. Ngoài những hành trình thực sự trong đời, I.Bunin thường xuyên thực hiện những chuyền phiêu lưu từ hiện tại về với quá khứ, qua những miền tâm tưởng xa lạ, qua những miền đất đã dé lại dau ấn trong văn xuôi của ông. Mỗi truyện ngắn của I.Bunin đưa người đọc đến với những chuyến phiêu lưu đến những vùng đất mới — hành trình trở về quá khứ, tìm về tình yêu đích thực, gia đình hay thậm chí là hành trình đến với cõi chết.
Từ các cuộc hành trình ấy, nhân vật của I.Bunin được khắc họa rõ nét những góc khuất trong tâm hồn, những suy nghĩ, những dan vặt nội tâm.Bunin luôn đặt nhân vật của mình trong những hành trình đi tìm kiếm ước mơ, lí tưởng, tìm kiếm hạnh phúc riêng cho mình. Nhân vật của Bunin không bao giờ chịu khuất phục số phận, không hài lòng với cuộc sống tẻ nhạt mà luôn luôn tự ý thức và có khi đã trở thành thói quen, bản năng là phải đi — phải tìm kiếm và khám phá những điều mới mẻ trong cuộc sống. Trước hết, truyện ngắn của L.Bunin là cuộc hành trình quay trở về quá khứ để kiếm tìm những giá trị, vẻ đẹp xưa cũ, gợi hình ảnh con người, tâm hồn Nga, một không gian của nước Nga cổ xưa mà chủ yếu thông qua hành trình của nhân vật “tôi”. Hình thức nhớ lại, hoài niệm đã giúp I.Bunin bộc lộ được nhiều nhất những cảm xúc trữ tình.
Nhà văn thường nhắc đến nước Nga xưa cũ có lẽ liên quan mật thiết đến biến cố cuộc đời khi ông phải rời xa Tổ quốc Nga thân yêu dù luôn thường trực niềm thương nỗi nhớ. Sau này khi sống ở Paris, ông vẫn chỉ viết về nước Nga với những kí ức tươi đẹp. Trong Những quả táo Antonov (1900), cả tác phâm ké về hành trình trở về nước Nga cô xưa trong tâm tưởng nhân vật “tôi”. Truyện được Bunin chia làm bôn phân găn với hình dung vê nước Nga nông thôn trong kí ức của nhân 18 vật “tôi”.
Ba phan dau, nhà văn dành dé miêu tả nước Nga xưa cũ, tram buồn với những nét đẹp thiên nhiên và sinh hoạt văn hóa một thời. Riêng phần thứ tư, một hình ảnh nước Nga khác — nước Nga của hiện tại được tái hiện chân thực bằng cảm giác. Câu chuyện xoay quanh cảm nhận về quê hương qua hồi ức của nhân vật “tôi” bắt đầu từ hình ảnh “khu vườn lớn đã khô và thưa lá” của mùa thu tháng Tám với “mùi thơm nhẹ nhàng của lá rụng và cả mùi táo Antonov’, những mùa táo bội thu, những ngày hội lớn, những cuộc di săn, những khu điền trang của quý tộc suy tàn, nếp sinh hoạt của người dân.Từ những hình ảnh đó, Bunin muốn nhấn mạnh tình yêu với quê hương và đặc biệt là sự tiếc nuối hình bóng nước Nga trong quá khứ vàng son. Nhân vật “tôi” trong Canh khuya đã trở về thị trấn cũ trong một đêm trăng để tìm lại ký ức, kỉ niệm sau tháng ngày xa xứ.
Anh không vội vàng, chậm rãi thăm từng ngóc ngách của chốn quê nhà vì sợ rằng lần trở về này cũng là lần cuối cùng để rồi cất bước ra đi và không bao giờ trở lại. Dường như qua nhân vật tôi, người đọc thấy cả hình bóng của I. Nếu nhìn lại thời gian sáng tác Canh khuya “ngày 19 tháng 10 năm 1938”, ta sẽ thấy đây chính là khoảng thời gian ông sống lưu vong tại Pháp. Dù xa xứ nhưng ông vẫn dành cho nước Nga một vị trí đặc biệt, luôn thương nhớ và hoài niệm, thôi thúc ông trở về nhưng là cuộc trở về trong tâm tưởng, qua nhân vật, qua trang giấy : “Chao ôi, đã lâu lắm rồi mình chưa về nơi ấy - tôi tự nhủ với mình như vậy.
Từ năm mười chín tuổi đầu. Hồi nào đây tôi đã sống ở nước Nga, đã cảm thấy nước Nga là của mình, được hoàn toàn tự do muốn đi đâu tùy thích, và đù có đi tới khoảng ba trăm verxta chăng nữa thì cũng chăng phải khó khăn gì cho lắm. Ấy vậy mà tôi vẫn không đi, cứ nay lần mai lữa hoài. Rồi những năm, những thập kỷ cứ trôi, cứ qua đi.
Thế mà nay đã không sao lan khan được nữa rồi: hoặc bây giờ, hoặc không bao giờ đi được nữa cả. Phải nắm lấy thời cơ duy nhất và cuối cùng, may được lúc canh khuya, sẽ 19 không ai bắt gặp mình ca”[4,tr. Có thé nói đây là cuộc trở về băng mộng tưởng, trong không gian huyền ảo, mộng mị của ánh trăng. Câu chuyện Meliton, Co gây cũng lại bắt đầu từ một cuộc hành trình của nhân vật người kế chuyện xưng “tôi” nhưng dé khám phá những nét dep của bản chất con người Nga, tâm hồn Nga qua hình ảnh những người nông dân.
Hình ảnh người nông dân giúp I.Bunin phát hiện được tâm hồn Nga. Câu chuyện Meliton (1900-1930) kế lại cuộc hành trình của nhân vật “tôi” tới những khoảng rừng thưa ở vùng quê nhà Zakaz. Trong hành trình trở về đó, nhân vật tôi gặp lại bác canh rừng Meliton bi ấn và luôn tò mò muốn khám phá về vẻ buồn khổ, về cuộc đời của bác. Nhà văn đã khắc hoa bác Meliton - một con người nhỏ bé, có thân phận nghèo hèn.
Bác làm công việc coi sóc khoảng rừng cho điền chủ và luôn sống lầm lì, buồn rầu, lặng lẽ, cô đơn “Bác làm ngay ra vẻ bình thản, đường như dé có giấu nỗi buồn thường có trong đôi mat xanh lam mờ nhạt của minh”[4,tr. Lúc nào bác cũng xuất hiện bí an, rất kiệm lời, nin lặng, giấu nỗi buồn trong những tiếng thở dài, lời thì thầm, trong hình ảnh “đầu cúi xuống, từ tốn vò dúm thuốc lá”, trong giọng hát “ í éo.nghe buồn rượi”. Chính vẻ ngoài của bác Meliton khiến nhân vật “tôi” có đi kiếm tìm, lí giải thái độ lầm lì, buồn bã cùng cuộc đời bác.Bunin không di sâu vào thân phận nghèo hén, nhỏ bé của bac Meliton mà để nhân vật hiện lên qua những đoạn hồi ức, hoài niệm sâu kín của nhân vật, qua những lời kể ngắt quãng, từ tốn, bình thản: “trước cũng có vợ, nhưng lâu rồi, chả nhớ được”, “cũng có cả con cái nữa đây ạ, mà Chúa cũng đã dem chúng đi từ hdi nào ấy rồi.”; qua lời hát than thở về những khu vườn xanh tươi, nỗi nhớ về một mối tình xưa với những vòng hoa kết cảm động không biết để cho ai. Dường như dưới lớp vỏ bọc lầm lì của bác Meliton, nhà văn giúp người đọc phần nào nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của kiếp người nhỏ bé như bác Meliton.
Cuộc đời bác chỉ quân quanh với khu rừng, 20 chòi canh nhưng bác luôn làm việc cần trọng, đề cao trách nhiệm canh phòng khu rừng. Bác luôn giữ lễ phép thậm chi hơi thai quá với cậu chủ trẻ tuổi hay nơm nớp lo sợ cậu chủ phật lòng nếu mình canh phòng không cân thận “Bác đứng day, dướn thắng người theo một tu thế đứng nghiêm đặc biệt mà hồi nào đây chỉ những lính hầu của vua Nikolai mới đứng như thế” [4.40], “Lạy Chúa tha tội! - bác vội vã nói - Tôi vẫn canh phòng day a. Bác sống thanh bạch, giản dị, nghèo nàn nhưng không kêu ca, phàn nàn. Bác luôn giữ cuộc sống hiền lành, khắc khổ thiêng liêng, ân dat lánh đời nhưng tôn sùng Chúa trời “chiếc áo sơ mi nông dân sạch sẽ của bác thường xuyên cho thấy bất kỳ lúc nào bác cũng sẵn sang lăn mình “dưới các tượng thánh”[4.40], ''bác Meliton đang đứng trước một tam ván mỏng treo tượng thánh đặt ở góc nhà mà nhắm mắt cúi lạy tượng thánh, lúc cúi xuống sát đất, lúc thì cúi đến ngang lưng”[4.
Bác cũng luôn có quan niệm, triết lý sống lạ lùng “con người ta sống chính là dé ăn nan tội lỗi”. Triết lý này liên quan mật thiết đến văn hóa Kito giáo phương Đông, thê hiện sự sùng kính tôn giáo. Nhân vật “tôi” luôn đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tôi ngầm nghĩ: chân bác Meliton đi giày bén bằng sợi vỏ cây, minh bác ấy mặc chiếc áo sơ mi kiểu cô.Sống một cuộc đời thanh bạch, giản di, nghèo nàn như thế thì thật tuyệt vời!