CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Thành phố Long Xuyên nằm ở khu vực phía bắc của Đồng bằng sông Cửu Long, bên bờ phải sông Hậu, cách biên giới với Campuchia 60 km. Thành phố Long Xuyên là tỉnh lỵ của tỉnh An Giang, nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long.
Long Xuyên là đô thị loại hai và là thành phố lớn thứ hai trong vùng (sau Cần Thơ). Thành phố sớm trở thành đô thị loại I vào năm 2020. Ranh giới thành phố Long Xuyên được giới hạn như sau: - Phía Bắc giáp huyện Châu Thành - Phía Nam giáp TP. Cần Thơ - Phía Đông giáp sông Hậu và huyện Chợ Mới - Phía Tây giáp huyện Thoại Sơn [5].1: Bản đồ hành chính thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang 4 Thành phố Long Xuyên có diện tích là 115,36km2 với dân số 286.683 người, mật độ dân số 2.485 người/km2.
Có 13 đơn vị hành chính gồm 11 phường và 2 xã: Mỹ Bình, Mỹ Long, Đông Xuyên, Mỹ Xuyên, Bình Đức, Bình Khánh, Mỹ Phước, Mỹ Quý, Mỹ Thới, Mỹ Thạnh, Mỹ Hòa và 2 xã: Mỹ Khánh, Mỹ Hòa Hưng. Đặc điểm địa hình Đồng bằng phù sa ở An Giang là một bộ phận của ĐBSCL, có nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa sông Mekong, do môi trường và điều kiện trầm tích khác nhau mà hình thành nên các cánh đồng lũ hở, lũ kín, cồn bãi, gò, gờ, đê sông, đầm lầy,. rất phức tạp. Địa hình thành phố Long Xuyên tương đối bằng phẳng nhưng cao độ mặt đất tương đối thấp: cao độ mặt đất trung bình từ 1 - 2,5m.
Khu vực có cao độ mặt đất từ 2 - 3 m là khu vực nội ô gồm 2 phường Mỹ Long, Mỹ Bình và ven trục quốc lộ 91. Khu vực có cao độ mặt đất từ 1,5 - 2,5m phần lớn là ven các sông rạch chính như sông Hậu, rạch Long Xuyên và ven các trục lộ [12]. Khu vực thành phố Long Xuyên nằm bên phía hữu ngạn sông Hậu với địa hình khá thấp và tương đối bằng phẳng, cấp có độ cao từ 3.00m trở lên nằm ở ven Sông Hậu và thấp dần vào trong nội đồng và cấp có độ cao dưới l. Hình dạng, đồng bằng phù sa ở An Giang có 3 dạng chính và 01 dạng phụ.
Dạng hơi nghiêng tập trung ở phía hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng trũng TGLX, thấp dần từ bờ sông Hậu vào trong nội đồng cho đến tận ranh giới với tỉnh Kiên Giang. Dạng gợn sóng là một dạng phụ nằm trong khu vực dạng lòng chảo, được hình thành do sự kết nối đan xen các bãi bồi ven các sông và các rạch tự nhiên đã bị phù sa sông bồi lấp. Cao độ địa hình hiện trạng của thành phố Long Xuyên với Quốc lộ 91 là trục phát triển chính của thành phố (theo hướng Tây Bắc - Đông Nam): 5 - Khu vực phường Bình Đức: cao độ nền đã xây dựng từ +2.90m, khu vực chưa xây dựng cao độ từ +1. - Khu vực phường Bình Khánh: cao độ nền từ +2.
- Khu vực các phường Mỹ Bình, Mỹ Long, Mỹ Xuyên cao độ nền từ +2.20m - Khu vực các phường Mỹ Quý, Mỹ Thới, Mỹ Thạnh cao độ nền từ +2.2: Bản đồ địa hình thành phố Long Xuyên [12] 6 1. Đặc điểm địa chất Cấu tạo địa tầng ở khu vực thành phố Long Xuyên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung có nguồn gốc trầm tích biển, cột địa tầng được phân bố thành các phần chính như sau: Tầng có đất đỏ hoặc xám trên cùng hình thành trong điều kiện trầm tích của sông Cửu Long, tầng đất xuất hiện tại những nơi có thế đất cao. Tiếp theo tầng đất đỏ là tầng đất sét lam có bề dày đều đặn trung bình từ 1,8 đến 2,3m nằm trong khoảng trung bình từ +0,5 đến +2,0. Nhóm tinh thể thạch cao Sennite, các lớp mùn, bã thực vật như rong, tảo, bần được xen kẽ chứng tỏ tầng sét lam được hình thành trong điều kiện biển ẩm chứa nhiều gốc Sunfat, đây là yếu tố chủ yếu làm chua hoá chất.
Đặc tính của tầng sét lam là ngăn thấm rất tốt. Đất dưới tầng sét lam là bùn có phạm vi cỡ hạt rất rộng từ sỏi, cát đến hạt bột và sét. Đặc tính của chúng là ở dạng bùn có tính chất phân ly trong nước rõ rệt. Đây là tầng đất mềm yếu, thấm nước mạnh có chiều dày biến đổi từ vài mét đến vài chục mét [12].
Đặc điểm khí hậu Thành phố Long Xuyên nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa phân biệt khá rõ rệt là mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau, có gió thịnh hành là gió Đông Bắc, và mùa mưa từ tháng V đến tháng XI có gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam. Tại thành phố Long Xuyên có các trạm đo mưa và trong tỉnh An Giang có trạm quan trắc khí tại thành phố Châu Đốc trạm quan trắc đầy đủ 06 yếu tố khí tượng bao gồm mưa, độ ẩm, nhiệt độ, nắng, gió, bốc hơi. a) Nhiệt độ Tỉnh An Giang nằm ở vị trí có vĩ độ thấp, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện bức xạ mặt trời quanh năm dồi dào, ít chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực đới phía Bắc mà chủ yếu bị chi phối của các khối không khí nóng ẩm phía Đông và Nam nên nhiệt độ trung bình hàng năm cao (27,40C) và thay đổi từ 25,9 - 28,70C.1: Nhiệt độ trung bình tháng ở An Giang (1978-2019) Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Trạm Châu Đốc 25.1 Do tính bất ổn định của khí hậu nên riêng biệt từng năm cụ thể có sự dịch chuyển tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất và thấp nhất trong năm. Trung bình từ 80-90% số năm có nhiệt độ trung bình cao nhất xảy ra vào tháng IV và khoảng 10- 20% xảy ra vào tháng V.
b) Độ ẩm Độ ẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng điều thấy rõ nét nhất là có quan hệ đồng biến với mưa, nghĩa là lượng mưa lớn thì độ ẩm lớn và ngược lại, nhưng lại nghịch biến với nhiệt độ, nhiệt độ càng cao thì độ ẩm càng giảm. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm thay đổi từ 77% đến 84%. Trong năm, các tháng mùa mưa từ tháng VII, VIII và IX độ ẩm trung bình đạt giá trị cao nhất (87÷89%). Tháng II và III độ ẩm trung bình đạt giá trị thấp nhất 71÷83%.2: Độ ẩm trung bình tháng (%) ở An Giang (1978-2019) Trạm Bình I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Tháng quân Châu Đốc 79 80 78 77 80 83 82 81 84 83 80 78 80 c) Bốc hơi Lượng bốc hơi nước tại Long Xuyên cũng chịu ảnh hưởng theo mùa.
Mùa khô lượng bốc hơi rất lớn thường chiếm 2/3 lượng bốc hơi cả năm, mà cao nhất là vào tháng 3 (hơn 160 mm) lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 9 và tháng 10 là các tháng chín vụ mùa mưa và độ ẩm lớn (khoảng 80 mm). Lượng bốc hơi trung bình cả năm tại Long Xuyên khoảng 1226 mm. Mặc dù có lượng bốc hơi nước và có mùa khô kéo dài nhưng khí hậu Long Xuyên vẫn thuộc loại ẩm.3: Lượng bốc hơi trung bình tháng (mm) ở An Giang (1978-2019) Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Tổng Tháng Châu 103.6 Đốc d) Số giờ nắng Khu vực Long Xuyên có số giờ nắng trung bình khá cao, bình quân cả năm 6,7 giờ/ngày. Tháng I đên tháng IV, số giờ nắng cao nhất (trung bình 7,4 - 8,2 giờ/ngày, trong trong đó cao nhất là tháng II “8,2 giờ/ngày”).
Tháng VIII, IX có số giờ nắng thấp nhất “5,5 giờ/ngày”. Từ tháng VI trở đi số giờ nắng giảm nhanh đến tháng IX và đạt giá trị cực tiểu 164 giờ vào tháng IX và sau đó lại tăng từ tháng XI và đạt đỉnh vào tháng III năm sau [5]. e) Chế độ gió Trong năm có hai mùa gió: gió mùa Đông bắc thịnh hành từ tháng XI đến tháng IV và gió mùa Tây nam thịnh hành từ tháng V đến tháng X. Gió mùa Đông bắc với thành phần chính là gió hướng Đông chiếm 50-70% số lần xuất hiện trong tháng, tốc độ gió trung bình tháng lớn nhất là 2,4 m/s (tháng VIII).
Gió mùa Tây Nam với thành phần chính là gió hướng Tây, chiếm từ 40-50% số lần xuất hiện trong tháng, tốc độ gió trung bình tháng lớn nhất 1,8 m/s. Thành phố Long Xuyên hầu như rất ít bị ảnh hưởng trực tiếp bởi bão xuất phát từ biển Đông, tuy nhiên hàng năm cũng thường xuất hiện những cơn lốc, gió xoáy có sức gió khá mạnh gây thiệt hại nhà cửa và hoa màu [12]. Đặc điểm mưa năm, mưa tháng Chế độ mưa tại Long Xuyên ảnh hưởng theo 2 mùa gió, sự biến động của mưa tương đối phức tạp nhưng mức độ biến động không lớn. Lượng mưa chủ yếu 9 tập trung vào mùa mưa từ tháng V đến XI chiếm 90% lượng mưa cả năm.
Lượng mưa trung bình cả năm tại Long Xuyên từ 1.700mm, trong đó mùa mưa chiếm từ 1.550mm và tập trung nhiều nhất vào tháng X với lượng mưa bình quân là 281,6mm. Lượng mưa hàng năm tại Long Xuyên không lớn với cường độ mưa trung bình một ngày là 3,4 mm, tuy nhiên lượng mưa ngày lớn nhất lại lớn. Lượng mưa trung bình tăng dần từ tháng V và trung bình 14 ngày có mưa, đạt giá trị lớn nhất vào tháng X. Sang tháng XI nhìn chung lượng mưa trung bình giảm nhiều, chỉ còn khoảng bằng 2/3 lượng mưa tháng X (150 mm) với số ngày mưa trung bình 12 ngày/tháng.
Đặc điểm lượng mưa nhóm ngày Phân tích tài liệu mưa ngày trạm Long Xuyên cho thấy khả năng xảy ra lượng mưa nhóm ngày max ứng với các cấp cho thấy: - Tháng IX và X khả năng xảy ra lượng mưa ngày trên 50 mm đạt giá trị cao nhất (>50%) các tháng còn lại trên 15%. - Lượng mưa 1 ngày max khá ổn định trong tháng IX và X, do vậy lượng mưa bình quân 1 ngày max tháng IX và X đạt mức lớn nhất (51.5 mm), các tháng còn lại, lượng mưa bình quân 1 ngày max chỉ từ 39. - Tháng IX và X, có khoảng 60-70% lượng mưa 5 ngày max bao gồm lượng mưa 3 ngày max và 1 ngày max (lượng mưa 3 ngày max luôn bao gồm lượng mưa 1 ngày max). Các tháng còn lại, khả năng bao trùm lượng mưa 5 ngày max trong 3 ngày max đều không quá 50% số năm quan trắc.4: Lượng mưa trung bình tháng (mm) trạm Long Xuyên (1978-2019) Năm/ I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Tổng tháng 1978 0.