đặt vấn đề và nghiên cứu về chiến lược. Thẻ điểm cân bằng chuyển chiến lược và tầm nhìn thành một loạt các phép đo có liên kết chặt chẽ với nhau. Ngay lập tức chúng ta có nhiều thông tin hơn là các dữ liệu tài chính cần phải được xem xét. Khi xem xét toàn bộ các mối liên hệ mật thiết, kết quả của việc đo lường hiệu quả của thẻ điểm mô tả rõ ràng chiến lược đến từng chi tiết nhỏ và tạo cơ sở cho việc đặt câu hỏi liệu kết quả thu được có đưa chúng ta tới gần việc đạt được chiến lược hay không và khi có bất cứ biến động gì, chúng ta biết ngay ảnh hưởng của nó ở đâu, cách khắc phục.
BSC được sử dụng như một công cụ truyền thông “BSC được sử dụng như một công cụ truyền thông nhằm truyền tải chiến lược một cách rõ ràng, ngắn gọn tới tất cả các thành viên liên quan cả bên trong và bên ngoài tổ chức thông qua bản đồ chiến lược. BSC giúp các tổ chức diễn giải chiến lược thành các mục tiêu, thước đo cụ thể. Một “mục tiêu” là một lời tuyên bố ngắn gọn, thường bắt đầu bằng động từ, mô tả điều chúng ta cần phải làm tốt trong cả bốn khía cạnh để thực thi kế hoạch của mình. Các mục tiêu có thể là: “Tăng lợi nhuận”, “cải thiện thời gian giao hàng”, “giảm lượng khí thải”, “thu hẹp lỗ hổng kỹ năng”.
Các mục tiêu này được sắp xếp trong bản đồ chiến lược và được liên kết với nhau bằng mối quan hệ nhân quả. Việc theo dõi sự thành công nhằm đạt được các mục tiêu chính là phạm vi của các thước đo, một thiết bị định lượng, dùng để giám sát tiến trình (Kaplan, BSC nguyên lý căn bản cho chiến lược hướng vào tổ chức, 2000). Căn cứ và nội dung của thẻ điểm cân bằng (BSC) 1. Tầm nhìn và chiến lược Chiến lược 17 “Chiến lược của doanh nghiệp là cách mà doanh nghiệp sử những nguồn lực nội tại của mình và nắm bắt những cơ hội của thị trường để đạt những mục tiêu của doanh nghiệp.” “Chiến lược được xem như là một kế hoạch tổng thể, dài hạn của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu lâu dài.
Theo Mintzberg, ÐH McGill, chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động. Còn theo Chandler, Ðại học Harvard, chiến lược là việc xác định những mục tiêu dài hạn của một tổ chức và thực hiện chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt những mục tiêu.” “Chiến lược chỉ được hình thành khi tổ chức xác định rõ hệ thống các mục tiêu, từ đó mới hình thành các phương án khác nhau (hay còn gọi là lựa chọn chiến lược (strategic options), để chọn lựa phương án tối ưu nhằm đạt được các mục tiêu đó. Như vậy, một khi tổ chức xây dựng được hệ thống mục tiêu rõ ràng thì chiến lược mới đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Do đó, để hoạt động tổ chức thực sự mang lại hiệu quả, đòi hỏi công tác hoạch định, xây dựng và triển khai chiến lược phải đúng đắn, hiệu quả, có tầm nhìn, có phương pháp và hệ thống.
Có thể nói, quản trị chiến lược là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các tổ chức thương mại trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp như giai đoạn hiện nay. Các vấn đề chính của chiến lược bao gồm: sứ mệnh, tầm nhìn của tổ chức.” “Các yếu tố cơ bản cấu thành sứ mệnh, tầm nhìn của một tổ chức bao gồm: (i) Sứ mệnh: lí do tồn tại của tổ chức; (ii) Tầm nhìn: tuyên bố về những mong muốn của tổ chức trong tương lai; (iii) Giá trị cốt lõi: triết lý chủ đạo trong hoạt động kinh doanh của tổ chức.” “Sứ mệnh chính là những tuyên bố mong muốn trong tương lai mang tính tham vọng nhưng có thể đạt được của một định chế tài chính, giúp thúc đẩy, khuyến khích tất cả các thành viên của tổ chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.” “Tầm nhìn là định hướng mà một tổ chức tạo dựng nhằm phát triển và củng cố hoạt động kinh doanh của mình, là cơ sở để vạch ra đường lối chiến lược của tổ chức trong tương lai (Bùi Văn Đông, Chiến lược và sách lược kinh doanh, 2008).” Nội dung của BSC là giúp biến mục tiêu chiến lược thành các thước đo hoạt động được thể hiện cụ thể như hình 1. BSC giúp biến chiến lược thành các tiêu chí hành động (Nguồn: Kaplan & Norton, 2001) Tầm nhìn “Tầm nhìn như là một bản đồ chỉ ra lộ trình một doanh nghiệp dự định để phát triển và hoạt động kinh doanh của nó. Nó vẽ ra một bức tranh về nơi mà doanh nghiệp muốn đến và cung cấp một sự chỉ dẫn hợp lý cho việc đi đến đâu.
Mục đích của tầm nhìn nhằm tập trung làm sáng tỏ phương hướng tương lai của doanh nghiệp, như: Những thay đổi về sản phẩm, khách hàng, thị trường và công nghệ của doanh nghiệp để hoàn thiện vị thế thị trường hiện tại, triển vọng tương lai. Một tầm nhìn tốt phải thỏa mãn các yêu cầu:” - Ngắn gọn, xúc tích. - Hấp dẫn, lôi cuốn. - Nhất quán với sứ mạng (mission) và giá trị (value).
- Truyền cảm hứng. Bốn khía cạnh của Thẻ điểm cân bằng (BSC) Khía cạnh Tài chính “Đây là khía cạnh quan trọng nhất của BSC vì nó là nền tảng đánh giá của tất cả những khía cạnh còn lại và vì khía cạnh tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp các hoạt động và mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. Các mục 19 tiêu trong khía cạnh này sẽ cho biết chiến lược có được thực hiện đạt được kết quả cuối cùng hay không. Các mục tiêu tài chính thường liên quan đến lợi nhuận, ví dụ như thu nhập, thu nhập trên vốn, tỉ lệ tăng trưởng doanh thu, hiệu quả sử dụng tài sản… (Kaplan, R.P, Triển khai chiến lược, 2003- bản dịch).” “Thông tin của khía cạnh tài chính được tổng hợp từ kết quả kinh doanh được đo lường từ các hoạt động trong kỳ.
Các chỉ tiêu tài chính này phản ánh rõ rệt việc thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp, đóng góp cho mục tiêu chung và từ đó có thể rút ra những điểm cần thiết để cải tiến quá trình hoạt động.” Khía cạnh Khách hàng “Trong khía cạnh khách hàng, nhà quản lý xác định phân khúc thị trường và khách hàng công ty sẽ tham gia, các thước đo hoạt động của đơn vị mình trong phân khúc đó. Khía cạnh này thường bao gồm một số thước đo điển hình để đo lường thành công của chiến lược như: mức độ hài lòng của khách hàng, mức độ trung thành của khách hàng, mức độ thu hút khách hàng mới, thị phần trong phân khúc thị trường mục tiêu. Khía cạnh khách hàng cũng bao gồm một số mục tiêu cụ thể liên quan đến các giá trị mà công ty mang lại cho khách hàng như là rút ngắn thời gian đặt hàng, giao hàng đúng hẹn, cải tiến sản phẩm liên tục, hoặc khả năng dự báo các nhu cầu mới của thị trường và khả năng phát triển sản phẩm mới kịp thời để đáp ứng các nhu cầu mới đó. Khía cạnh khách hàng khiến cho các nhà quản lý doanh nghiệp có thể kết nối khách hàng với chiến lược thị trường, điều này sẽ tạo ra giá trị tài chính to lớn trong tương lai (Kaplan, R.P, Triển khai chiến lược, 2003- bản dịch).” Khía cạnh Quy trình nội bộ Khía cạnh quy trình nội bộ thường được tạo lập sau khía cạnh về tài chính và khách hàng.
Trong khía cạnh quy trình nội bộ của BSC, nhà quản lý nhận diện các quy trình chính mà doanh nghiệp phải thực hiện tốt. Những quy trình đó khiến cho doanh nghiệp có thể: - Tạo giá trị để thu hút hoặc duy trì khách hàng trong thị trường mục tiêu - Thoả mãn mong đợi của cổ đông về các mục tiêu tài chính 20 “Các thước đo trong quy trình nội bộ tập trung vào các quy trình nội bộ có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng của khách hàng và các mục tiêu tài chính của tổ chức bao gồm: các quy trình vận hành trong doanh nghiệp, các quy trình quản lý khách hàng, các quy trình sáng kiến, cải tiến và các quy trình liên quan đến xã hội:” - Quá trình sang kiến, cải tiến: nhằm xác định nhu cầu của khách hàng hiện tại và tương lai. Từ đó đưa ra giải pháp đáp ứng nhu cầu này. - Quá trình hoạt động: tiến hành sản xuất và chuyển giao SP/DV theo giải pháp đã được đưa ra ở chu trình trên.
- Dịch vụ hậu mãi: cung cấp dịch vụ sau khi bán hàng nhằm làm tăng giá trị cho khách hàng khi sử dụng SP/DV của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị của khía cạnh Quy trình nội bộ (Nguồn: Kaplan & Norton, 2001) “Trong quá trình cải tiến, doanh nghiệp nghiên cứu nhu cầu nổi trội và tiềm ẩn của khách hàng, sau đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu trên. Quá trình hoạt động là bước thứ hai trong chuỗi giá trị của khía cạnh quy trình hoạt động nội bộ, trong quá trình này sản phẩm, dịch vụ được sản xuất và phân phối tới tay người tiêu dùng. Trước đây, các hệ thống đo lường thành quả của phần lớn doanh nghiệp đều tập trung vào quá trình hoạt đông.
Bước thứ ba trong chuỗi giá trị đó là dịch vụ cung cấp cho khách hàng sau khi bán và phân phối SP/DV tới khách hàng.” “Khía cạnh quy trình nội bộ nêu rõ hai điểm khác nhau căn bản giữa hai cách tiếp cận về phương pháp đo lường hoạt động truyền thống và BSC. Thứ nhất, phương pháp truyền thống nỗ lực giám sát, đo lường và cải tiến các quy trình hiện tại nhưng có thể xa rời các thước đo tài chính. BSC sẽ xác định các quy trình mới mà tổ chức phải thực hiện tốt nhất để đạt được các mục tiêu tài chính và khách 21 hàng. Thứ hai, BSC kết hợp các quy trình đổi mới, cải tiến vào khía cạnh quy trình kinh doanh nội bộ.
Hệ thống đo lường hoạt động truyền thống chú trọng vào các quy trình tạo ra giá trị và dịch vụ hiện tại cho khách hàng hiện tại, tập trung vào việc kiểm soát và cải tiến các quy trình hoạt động hiện tại, tạo ra những giá trị ngắn hạn. Quy trình tạo giá trị bắt đầu từ việc nhận đơn hàng từ các khách hàng hiện tại cho những sản phẩm và dịch vụ hiện tại và kết thúc bằng việc giao hàng cho khách hàng. Tổ chức tạo ra giá trị bằng cách sản xuất, giao hàng, bán hàng với giá bán cao hơn giá thành.