CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG VÀ CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG HIỆU SUẤT CỐT YẾU 1. Tổng quan về Thẻ điểm cân bằng (BSC) 1. Khái niệm về Thẻ điểm cân bằng (BSC) Trong những thập niên vừa qua, các hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động và các hệ thống quản trị chiến lược đã được phát triển và được làm sáng rõ nhờ khoa học quản trị. Hơn hai thập niên gần đây, đã có nhiều công cụ và phương pháp quản trị đã được lý thuyết hóa và được nghiên cứu, chẳng hạn như: Quản trị chất lượng toàn diện; Tái cấu trúc quy trình kinh doanh; Quản trị quy trình kinh doanh; Hoạch định nguồn lực DN; Quản trị quan hệ khách hàng; Quản trị dựa trên giá trị.
Tuy nhiên, BSC vẫn được xem là một trong những công cụ thành công nhất. Giáo sư Robert Kaplan và David Norton đã giới thiệu BSC lần đầu tiên vào năm 1990 thông qua công trình nghiên cứu về 12 công ty trong một năm. Sau đó, khái niệm BSC được chính thức giới thiệu qua bốn bài báo và được giải thích thêm một các cụ thể ở cuốn sách BSC: “The Balanced Scorecard: Translating Strategy into Action”. Khái niệm mới này được phát triển từ một công cụ đo lường hiệu quả hoạt động cơ bản, trở thành công cụ quản trị chiến lược toàn diện (đôi khi còn gọi là hệ thống quản lý và thực thi chiến lược).
Khái niệm BSC được xem như là sự đổi mới của hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh bởi việc đo lường hiệu quả chủ yếu dựa vào các thước đo tài chính truyền thống đã trở nên lỗi thời. Tính “mới” của cách tiếp cận bởi BSC là sự chú trọng tới giá trị các tài sản vô hình và các nhân tố “mềm” (chẳng hạn như sự thỏa mãn của khách hàng, sự trung thành của khách hàng, chất lượng sản phẩm, hình ảnh của công ty…), trong khi trước đây chúng được xem là không thể đo được và chưa được nhìn nhận đúng mức. Gumbus và Lussier cho rằng, tất cả các DN đều có thể làm tốt công việc xây dựng bản tuyên bố sứ mệnh và các chiến lược, nhưng đều gặp khó khăn trong việc thực thi chiến lược cũng như việc chọn các thước đo nhằm hoàn thành sứ mệnh và các chiến lược đã đặt ra. Để giải quyết những khó khăn này, BSC sẽ kết nối sứ mệnh của công ty với chiến lược và sau đó sẽ chuyển tải chiến lược thành các mục 11 tiêu hoạt động và các phép đo tương ứng.
BSC coi chiến lược là trung tâm của quá trình đo lường hiệu suất hoạt động. BSC đã mở ra một sự phát triển phong phú về lý thuyết, về nghiên cứu và cả tư vấn ứng dụng, đồng thời được ứng dụng rộng rãi hơn so với quản trị chất lượng toàn diện. Tóm lại, có thể hiểu BSC là một công cụ quản trị, nó giúp cho doanh nghiệp thiết lập, thực hiện, giám sát, nhằm đạt được các chiến lược và các mục tiêu của mình thông qua việc diễn giải và phát triển các mục tiêu chiến lược thành các mục tiêu, chương trình hành động cụ thể. BSC bao gồm các bảng chia thành 4 nhóm hay nói cách khác là bốn khía cạnh: Tài chính; Khách hàng; Quy trình nội bộ; Đào tạo & phát triển.
Bốn phương diện này tạo ra sự cân bằng: (1) Cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn- mục tiêu dài hạn, (2) Cân bằng giữa đánh giá bên ngoài liên quan đến các cổ đông, khách hàng- những đánh giá nội bộ liên quan đến quy trình xử lý, đổi mới, đào tạo và phát triển, (3) Cân bằng giữa kết quả mong muốn đạt được (tương lai)- những kết quả trong thực tế (quá khứ), và (4) Cân bằng giữa những đánh giá khách quan- đánh giá chủ quan. Cấu trúc của thẻ điểm cân bằng (Nguồn: Kaplan & Norton, 1992) Mặc dù đặt nền móng cho sự phát triển của BSC, nhưng Kaplan và Norton chưa đưa ra định nghĩa rõ ràng về BSC, mà chỉ tập trung vào cách thức sử dụng BSC hay mối liên hệ của BSC với các tổ chức. Bởi vậy, BSC được hiểu theo nhiều 12 cách khác nhau. BSC từng được hiểu theo ba tên gọi khác nhau: công cụ, hệ thống và mô hình.
Một số tác giả chỉ đơn thuần xem BSC là một công cụ quản trị chiến lược. Một số tác giả khác cho rằng BSC có ý nghĩa lớn hơn kỹ thuật đo lường hiệu quả hoạt động, họ cho rằng nó là một hệ thống quản trị. Một số tác giả đồng thời dùng cả hai tên gọi: công cụ quản trị và hệ thống quản trị. Có tác giả còn cho rằng BSC là một triết lý quản trị cũng như một hệ thống quản trị hoạt động.
Vai trò và ý nghĩa của Thẻ điểm cân bằng (BSC) Các chức năng của BSC được phát triển cùng với quá trình nghiên cứu và phát triển của lý thuyết BSC. Năm 1992, khi BSC lần đầu được giới thiệu, giáo sư Kaplan chỉ đề cập đến BSC được sử dụng như là một công cụ đo lường. Sau đó, năm 1996, Kaplan giới thiệu chức năng quản trị chiến lược của BSC trong bài viết “Using the Balanced Scorecard as a Strategic Management System”. Đến năm 2000, chức năng thứ 3 của BSC được Kaplan giới thiệu trong bài viết “Balanced scorecard as basis for Strategy-focused Organization” đó là chức năng truyền thông.
BSC được sử dụng như một hệ thống đo lường Những phép đo tài chính cho thấy rất rõ những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng lại không phù hợp với việc nhấn mạnh vào cách thức tạo giá trị thực của ngày hôm nay của tổ chức - Đó là những tài sản vô hình như kiến thức, mạng lưới các mối quan hệ. Chúng ta có thể gọi các phép đo tài chính là những “chỉ số trễ”. Đó là kết quả của hàng loạt những hành động đã được thực hiện từ trước. BSC bổ sung cho những “chỉ số trễ” này bằng những định hướng hiệu quả kinh tế trong tương lai, hay còn gọi là “chỉ số sớm”.
Nhưng những phép đo hiệu quả này (bao gồm cả chỉ số trễ và chỉ số sớm) xuất phát từ chiến lược của tổ chức. Tất cả các phép đo trong BSC được hiểu như là việc làm rõ chiến lược của tổ chức. Rất nhiều tổ chức đã cố gắng truyền đạt những phương diện và quán triệt các chiến lược, nhưng thường không liên kết được các hoạt động của người lao động với định hướng chiến lược của tổ chức. BSC cho phép tổ chức làm rõ những phương diện và chiến lược của tổ chức bằng cách đưa ra một khuôn khổ mới.
Khuôn khổ này cho thấy toàn bộ câu chuyện về chiến lược của tổ chức thông qua 13 các mục tiêu và các phép đo đã đưoạ chọn. Thay vì tập trung vào việc kiểm soát các yếu tố tài chính, BSC sử dụng các phép đo như là ngôn ngữ mới để mô tả các yếu tố chính để đạt được chiến lược. Việc sử dụng các phép đo như thế nào rất quan trọng đối với việc đạt được chiến lược. Các mục tiêu đo lường được có ý nghĩa rất quan trọng để biến chiến lược thành hiện thực.
BSC vẫn duy trì các phép đo tài chính nhưng bổ sung thêm 3 khía cạnh rất quan trọng khác: Khách hàng, các quá trình hoạt động nội bộ, học hỏi và phát triển. BSC được sử dụng như một hệ thống quản lý chiến lược Theo các kết quả nghiên cứu, trong khi mục đích ban đầu của BSC là cân bằng các số liệu tài chính quá khứ với những yếu tố định hướng giá trị tương lai của công ty, ngày càng nhiều tổ chức thử nghiệm khái niệm này và nhận thấy nó là công cụ quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động ngắn hạn bằng chiến lược. Chính được sử dụng theo cách đó mà BSC đã hạn chế được nhiều vấn đề phát sinh trong việc thực thi chiến lược hiệu quả. BSC giúp các tổ chức: - Vượt qua rào cản tầm nhìn thông qua diễn giải chiến lược.
BSC được đưa ra với lý tưởng là chia sẻ những hiểu biết và chuyển chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu, phép đo và những chỉ tiêu cụ thể và thể hiện trong mỗi khía cạnh của BSC. Việc giải thích định hướng chiến lược yêu cầu nhóm thực hiện BSC phải xác định cụ thể những gì còn mập mờ, mơ hồ trong định hướng chiến lược của tổ chức. Ví dụ: “Tạo ấn tượng với khách hàng”. Thông qua quá trình triển khai hệ thống thẻ cân bằng, nhóm thực hiện có thể làm rõ: “Tạo ấn tượng với khách hàng” có nghĩa là 70% khách hàng sẽ quay trở lại với doanh nghiệp… Như vậy toàn thể nhân viên của tổ chức giờ đây có thể tập trung nỗ lực trong các công việc hàng ngày của họ nhằm đạt được “Ấn tượng với khách hàng”- bây giờ là một mục tiêu hoàn toàn cụ thể.
Khi sử dụng BSC như là cơ sở để giải thích rõ ràng chiến lược, các tổ chức sẽ tạo ra một ngôn ngữ mới để thực hiện đo lường nhằm hướng dẫn tất cả mọi người hướng tới việc đạt được những định hướng đã được công bố. - Vượt qua rào cản con người thông qua việc phân tầng BSC. Để chiến lược có thể được thực hiện thành công thì bản thân chiến lược cần phải được hiểu rõ và 14 được thực hiện tại mọi cấp của tổ chức. Và BSC được đưa đến mọi bộ phận, phòng ban của tổ chức và tạo cho người lao động có cơ hội để liên hệ giữa công việc hàng ngày của họ với chiến lược của toàn tổ chức.
Mọi cấp độ đều nhận ra vai trò, vị trí và các hoạt động tạo giá trị của họ thông qua mối liên hệ giữa việc triển khai những thẻ điểm của họ với các mục tiêu của các cấp cao hơn. Và hơn thế nữa, BSC còn cung cấp các luồng thông tin phản hồi ngược từ dưới xưởng lên ban điều hành tạo điều kiện cập nhật thông tin liên tục của việc thực thi chiến lược. - Vượt qua rào cản nguồn lực thông qua phân bổ nguồn lực chiến lược. Như chúng ta biết, nguồn lực là một vấn đề rất quan trọng của tổ chức.
Gần như chúng ta luôn phải thực hiện các chiến lược trong hoàn cảnh không đủ các nguồn lực. Vậy các nguồn lực cần và nên được phân chia như thế nào? Có thể thấy rằng, khi chưa xây dựng BSC, hầu hết các công ty đều có quá trình hoạch định chiến lược và hoạch định ngân sách riêng biệt.