TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA/VIỆN ……………. ------ Báo cáo đồ án 1 Đề tài: …………………………………………………………… Giáo viên hướng dẫn: ……………………………. Sinh viên thực hiện: ………………………. Nhóm: ……………………………………………… Lớp:………………………………………………… 1 Năm học - Contents TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI.1 Sinh viên thực hiện: ……………………….
4 Sự phát triển của Mạng điều khiển bằng phần mềm (Sofware Denfined Network).5 Cải tiến đối với Ảo hoá chức năng mạng.6 Cấu hình tự động đầu- cuối.7 Tương tác với các hệ thống có sẵn.9 Trừu tượng hoá, tự động hoá và tiêu chuẩn hoá. Cấu trúc framework. Cấu trúc SDN-FNV.10 Các loại danh mục lưu trữ khác nhau:. Cơ sở vật chất của NFV.1 Các khía cạnh của NFVI.1 Giới thiệu và định nghĩa.
Vai trò của VIM, PIM, SDN.2 Phương diện về CPU và bộ vi xử lý.1 Giới thiệu chung. Sự quan trọng của bảo mật và độ tin cậy của CPU và Chipset.3 Tầm quan trọng của vi xử lý và chipset trong việc kết nối mạng.4 Sự quan trọng của CPU và chipset đối với hiệu năng.5 Khai thác các khả năng của NFVI. Cơ sở vật chất của NFV. Giới thiệu Mạng truyền thống được thiết kế bằng các thiết bị mạng chuyên dụng (ví dụ như: bộ định tuyến; bộ chuyển mạch, phần cứng nhúng, tường lửa, cân bằng tải, vân vân …) dựa trên các nền tảng phần cứng và phần mềm được cung cấp.
Việc thi công và đưa vào sử dụng mạng truyền thống cần rất nhiều thời gian để phát triển, cấu hình và lắp đặt từng bộ phận, kéo theo đó là thời gian để những dịch vụ, sản phẩm của nhà mạng đến với khách hàng bị kéo dài, Thêm vào đó là việc quản lý, quản trị mạng cũng rất mất thời gian, phức tạp và cần nhiều nhân công. Những nhược điểm trên yêu cầu các nhà cung cấp mạng đưa ra một giải pháp để tối ưu giữa doanh thu, chi phí trong khi nhu cầu sử dụng của khác hàng ngày một cao. Hiện nay, mạng của các nhà phát hành bao gồm rất nhiều phần tử được “đóng gói”, trong đó việc điều khiển, quản lí và lưu lượng dữ liệu sử dụng liên quan mật thiết với nhau, Việc phát triển một dịch vụ, hay một nâng cấp, điều chỉnh mới với các dịch vụ hiện tại đều phải làm trên mọi phần tử có trong mạng, yêu cầu các nguồn lực phối hợp cả bên trong lẫn bên ngoài. Hạn chế của các gói mạng hiện nay là sự không linh hoạt, phụ thuộc vào từng dịch vụ của các nhà cung cấp.
Mục tiêu của đồ án “Áp dụng kiến trúc NFV và mạng điều khiển bằng phần mềm SDN vào ảo hóa mạng lõi di động 4G/5G” là: 1. Hiệu quả khi đưa và hoạt động: Mạng di động có khả năng linh hoạt, mở rộng Hoạt động quản lý, quản trị, bảo trì, cung cấp tự động Quản trị lưu lượng và liên kết các dịch vụ 2. Hỗ trợ hoạt động chuyển đổi kinh doanh cho nhà cung cấp: Giảm thời gian triển khai các dịch vụ ra thị trường Dịch vụ được cung cấp linh hoạt và nhanh chóng đến với khách hàng Cải thiện sự hài lòng của khách hàng Các tính năng của mạng lõi di động 4G/5G khi sử dụng kiến trúc NFV và mạng điều khiển bằng phần mền SDN: Tách biệt hai mặt phẳng điều khiển control plane và mặt phẳng chuyển tiếp dữ liệu data plane Ảo hoá các chức năng của mạng Điều khiển, quản trị mạng bằng lập trình Lập trình điều khiển các tài nguyên của hệ thống 4 Cấu hình các giao thức dựa trên tiêu chuẩn Sử dụng duy nhất một cơ chế để quản lý và phân bổ các tài nguyên của phần cứng Điều khiển, quản lý hoạt động kinh doanh một cách tự động Điều phối tài nguyên tự động để đáp ứng nhu cầu của ứng dụng/chức năng. Mục tiêu của đề tài là tạo nên một mạng lõi linh hoạt, giúp cải thiện chất lượng dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của người dùng.
SDN và NFV sẽ thay đổi mô hình của mạng truyền thống. Sự thay đổi này sẽ tác động đáng kể đến việc các nhà mạng thiết kế, phát triển, quản lý & phát hành các sản phẩm, dịch vụ mạng, giảm thiểu được chi phí, góp phần thúc đẩy cạnh tranh trong cùng ngành.1 Sự phát triển của Mạng điều khiển bằng phần mềm (Sofware Denfined Network) Mạng điều khiển bằng phần mềm thay đổi cách thiết kế mô hình mạng hiện nay bằng một hệ thống mạng có thể lập trình. Mạng SDN chia hai thành phần điểu khiển mạng tách hẳn nhau (bao gồm thành phần điều khiển control plane xác định lưu lượng truy cập được gửi đi và một thành phần điều khiển dữ liệu data plane chuyển tiếp lưu lượng dữ liệu dựa trên thông tin control plane cho nó biết và thực hiện). SDN chia mặt phẳng điều khiển và mặt phẳng chuyển tiếp dữ liệu thành 4 bộ chuyển mạch L1, L2, L3 và L4(như hình 1.
Việc này cho phép nguồn dữ liệu của data plane và control plane được độc lập, giúp tối đa hoá việc sử dụng phần cứng. Ngoài ra, việc tập trung hoá dữ liệu của control plane sẽ giúp giảm số phần tử thực hiện control plane, giúp đơn giản hoá việc hoạt động, cấu hình mạng. Ý tưởng về tập trung hoá trong kiểm soát mạng có thể được khái quát, định nghĩa rộng hơn cho SDN: các giao thức tiêu chuẩn và mô hình dữ liệu cho phép điều khiển tập trung hoá qua mạng liên thông, nhiều lớp giữa các nhà cung cấp. SDN điều khiển hiển thị các liên kết và mô hình dịch vụ dữ liệu thông qua hệ thống giao diện northbound, đơn giản hoá cấu hình dịch vụ quy trình đầu cuối, cho phép phát triển các ứng dụng liên quan đến mạng sử dụng phần mềm lập trình 5 Hệ thống hỗ trợ hoạt động Cấu hình và kinh doanh OSS/BSS OpenAPI Magement Plane Control Plane (mặt phẳng quản lý) Data Plane Hệ thống kế thừa Hình 1.1: Ý tưởng về mạng SDN 1.
Cải tiến đối với Ảo hoá chức năng mạng Ý tưởng thứ hai đó chính là ảo hoá chức năng mạng (network function virtualization – NFV). Ý tưởng này dựa trên việc sử dụng các phần cứng COTS (sản phẩm phần mềm, phần cứng bán sẵn trên thị trường, được đóng gói, đóng hộp, được điều chỉnh theo chế độ hậu mãi phù hợp với mục đích sử dụng) cho những mục đích chung như tính toán, lưu trữ, hoà mạng. Chức năng của phần mềm(sử dụng để hoàn thiện các chức năng vật lý của hệ thống mạng) được tách rời khỏi phần cứng(cơ sở hạ tầng của NFV). NFV cho phép phát triển các chức năng của mạng ảo hoá (virtual network funcitons – VNFs) cũng như các dịch vụ mạng được miêu tả ở sơ đồ liên kết mạng NFs và các điểm đầu cuối trong một mạng hoặc giữa các mạng với nhau.
Mạng VNF có thể được lắp đặt ở các mạng vật lý truyền thống đã có sẵn ( physical network functions-PNFs) và có thể lắp đặt vào các mạng không hỗ trợ PNFs. Cấu trúc 6 mạng đề xuất cho phép các dịch vụ bảo đảm cho NFV trong tương lai và cho phép việc thu thập dữ liệu cho đo lường hiệu quả công việc của phần mềm, phần cứng của NFV. Cấu hình tự động đầu- cuối Phần này sẽ cung cấp mô tả chính xác vê phương diện quản lý và điều khiển của cấu trúc NDV và SDN. Đây là phần giới thiệu về mô tả cấu trúc, thể hiện trong hình 1-2 Hệ thống hỗtrợ hoạt động và kinh doanh OSS/BSS Cấu hình tự động- đầu cuối Quản lý và điều phối NFV Bộ điều khiển mạng diện rộng EMS SDN VNFs PNFS Cơ sở hạ tầng của NFV Bảng 1.2 Cấu trúc quản lý và điều khiển cấp cao Bảng 1.2 cho thấy cấu trúc mạng khi kết hợp giữa mạng vật lý và mạng ảo.
Các chức năng của mạng ảo (VNFs) chạy trên cấu trúc mạng NFV. Tổ hợp quản lý và điều khiển bao gồm ba phần chính: NFV Mano(Management and orchestration ): Quản lý NFVI và có trách nghiệm quản lý các chu kì của VNFs, Những chức năng chính: a) Phân bổ, phát tán tài nguyên của cơ sở hạ tầng NFV (tính toán, lưu trữ, kết nối mạng, băng thăng, gia tốc phần cứng). 7 b) Quản lý mạng giữa Máy ảo (Virtual Machine-VMs) và VNFs, ví dụ Trung tâm xử lý dữ liệu SDN. c) Lắp đặt, đo lường, sửa chữa,nâng cấp và xoá bỏ VNFs.
d) Thông báo và giám sát cở sở hạ tầng của NFV. Bộ điều khiển mạng diện rộng SDN – Một hoặc nhiều bộ điều khiển SDN quản lý dịch vụ kết nối giữa các nhà cung cấp và các miền với những công nghệ khác nhau. Bộ điều khiển mạng diện rộng SDN quản lý dịch vụ kết nối giữa các mạng có sẵn với mạng PNFs mới, ngoài ra còn có thể quản lý các chức năng được ảo hoá, ví dụ như bộ định tuyến ảo (vPE). Cấu hình tự động đầu cuối (End-to-End Orchestration (EEO) – phân bổ, khởi tạo và kích hoạt các chức năng và tài nguyên của mạng cần thiết cho các dịch vụ đầu cuối, thành phần này tương tác với: a) NFV MANO để yêu cầu VNFs khởi tạo b) Bộ điều khiển mạng diện rộng SDN để yêu cầu kết nối qua mạng WAN c) PNFs và VNFs cho dịch vụ cung cấp và kích hoạt Như hình, EEO và NFV Mano được nối chồng lên nhau.
Bởi vì, theo định nghĩa của viện truyền thông châu Âu ETSI, MANO bao gồm chức năng dịch vụ cấu hình mạng (NSO- Network Service Orchestration), liên quan mật thiết đến các chức năng của EEO. Có một sự khác nhau cơ bản giữa NFV Mano và bộ điều khiển mạng diện rộng SDN. NFV Mano chịu trách nghiệm cho các khía cạnh hoạt động, quản lí cơ sở hạ tầng của NFV và quản lý chu kì của VNF. Do đó, NFV Mano có thể khởi tạo VNFs nhưng không ảnh hưởng đến các chức năng của VNF, tuy nhiên, khi VNFs được khởi tạo, nó sẽ hoạt động như mạng vật lý.
Ví dụ, một nhà mạng có thể triển khai cả cổng mạng dữ liệu gói(PGWs-Packet Data Network Gateway) ảo và vật lý. Các chức năng của mạng( ví dụ như quản lý mạng di động(MME – Mobility Management Entity), hệ thống quản lý và điều khiển mạng không nên có sự khác biệt giữa hai phương thức. Do đó, các dịch vụ cung cấp và kích hoạt của bộ điều khiển mạng diện rộng SDN và EEO là như nhau, không phụ thuộc vào chức năng của mạng có được ảo hoá hay không. Nói một cách ngắn gọn: NFV Mano cho biết các chức năng của mạng đã được ảo hoá chưa mà không cần biết các chức năng đó làm được gì, bộ diều khiển mạng diện rộng SDN cho biết chức năng của mạng làm được gì, mà không cần biết nó đã được ảo hoá hay chưa.