Chương 1 giới thiệu tổng quan về tầm quan trọng và thách thức mạng mesh không dây và các ứng dụng multicast, các định nghĩa của thiết kế liên tầng và kỹ thuật mã mạng cũng như các công trình liên quan. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong chương 2 trình bày các nội dung về công nghệ mạng mesh không dây và các phương pháp multicast truyền thống. Chương 3 trình bày chi tiết các kỹ thuật thiết kế liên tầng và kỹ thuật mã mạng tuyến tính. Trong chương 4, tác giả luận văn đề xuất phương pháp mới để tăng hiệu năng cho các ứng dụng multicast trong mạng mesh không dây.
Chương này cũng trình bày các kết quả mô phỏng bằng bộ mô phỏng mạng NS-2. Tác giả đưa ra kết quả so sánh hiệu năng của phương pháp mới với các phương pháp đã có. Phần kết luận đưa ra tổng kết các kết quả luận văn đã đạt được và một số hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2.
CÔNG NGHỆ MẠNG MESH KHÔNG DÂY VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP MULTICAST 2.1 Công nghệ mạng mesh không dây WMN Các mạng mesh không dây là tập hợp các node cố định và di động kết nối thông qua các liên kết không dây để tạo nên một mạng không dây đa chặng (multihop). Trong khi các mạng không dây truyền thống như WLAN, WMAN, mạng tế bào cần có một thiết bị trung tâm (điểm truy cập hoặc trạm cơ sở) cho truyền thông không dây, mạng WMN không cần một thiết bị trung tâm như vậy. Trong mạng WMN, mỗi node đóng vai trò là máy khách và router. Nó chuyển tiếp các gói tin tới các node khác khi node nguồn và node đích cách nhau nhiều hơn một chặng.
Mạng WMN có khả năng tự-cấu hình và tự-tổ chức. Khi một node tham gia vào mạng hay dời đi khỏi mạng, mạng có khả năng cấu hình lại để thích nghi với những thay đổi trong mạng. Thiết lập mạng là tự động và trong suốt đối với người dùng. Khi thêm một node vào mạng, node này sẽ tự động tìm các router không dây khác và đường tới mạng có dây.
Các router không dây trong mạng cũng tự cấu hình lại cho phù hợp. Vì lý do này mà mạng WMN có thể dễ dàng mở rộng.1 Kiến trúc của mạng WMN Mạng WMN bao gồm hai loại node: mesh router và mesh client. Mesh router có chức năng định tuyến các gói tin trong mạng. Chúng có một số giao diện không dây có thể có công nghệ giống nhau hoặc khác nhau.
Hơn nữa chúng có chức năng của gate/bridge làm cho mạng có khả năng tích hợp với các mạng không dây đã có như mạng tế bào, Wi-Fi, Wi-MAX, mạng cảm biến (sensor network). Mesh client là các thiết bị không dây như laptop, máy tính để bàn, PDA, Pocket PC, điện thoại cầm tay được trang bị một card giao diện mạng không dây (NIC) và có thể kết nối trực tiếp tới các mesh router. Các máy khách không có NIC không dây có thể truy cập vào mạng bằng cách kết nối với các mesh router thông qua Ethernet. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có 3 loại kiến trúc mạng WMN: mạng infrastructure mesh, mạng client mesh và mạng mesh lai.
Mạng Infrastructure mesh Trong kiến trúc này các mesh router hình thành nên mạng mesh cung cấp đường backbone cho các máy client và có khả năng tích hợp các mạng không dây đã có như mạng Wi-Max, Wi-Fi, mạng tế bào, mạng cảm biến. Các client có thể kết nối với mạng WMN thông qua kết nối có dây hoặc không dây. Hình 2-1 Mạng Infrastructure mesh Mạng client mesh Trong mạng client mesh, các client kết nối trực tiếp với nhau và hình thành nên mạng ngang hàng. Không cần có mesh router trong kiến trúc này.
Các client có chức năng của cả các router như định tuyến và tự cấu hình. Mạng mesh lai Mạng mesh lai là kết hợp của kiến trúc infrastruture mesh và client mesh. Các mesh router cung cấp đường backbone cho kết nối tới các mạng không dây khác. Các client khong dây có thể truy cập tới mạng WMN bằng việc kết nối trực tiếp tới các mesh router hoặc các client khác.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mạng client mesh Hình 2-3. Mạng mesh lai 2.2 Các lợi ích của mạng WMN Ngày nay các kết nối Internet băng thông rộng sử dụng dây cáp hay các đường thuê bao số (DSL). Tuy nhiên, một số lượng lớn dân số (đặc biệt ở các vùng nông thôn, các thành phố lớn, thậm chí ở các nước đã phát triển) không có cơ sở hạ tầng băng thông rộng cần thiết (dây cáp vô tuyến hay dây cáp điện thoại chất lượng tốt) để kết nối Internet.
Hơn nữa việc cài đặt các cơ sở hạ tầng yêu cầu (đặc biệt là việc cài đặt 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các dây cáp mới) là cực kỳ đắt đặc biệt là đối với các nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP. Các mạng WMN cung cấp công nghệ truy cập Internet băng thông rộng với rất nhiều lợi ích: Đầu tư ban đầu thấp: Vì không cần cài đặt cáp, kinh phí đầu tư ban đầu giảm đi đáng kể. Một mạng WMN cơ bản cung cấp một vùng phủ tối thiểu có thể được sử dụng để phục vụ các khách hàng đầu tiên; khi số khách hàng tăng lên, mạng có thể được nâng cấp lên. Ngoài ra, các sóng radio 802.11 đã trở nên khá rẻ nhưng các sóng radio vẫn là một trong những phần đắt nhất của một mạng.
Trong khi đó, mỗi node trong mạng mesh hoạt động vừa như một client vừa như một repeater, như vậy sẽ tiết kiệm được số các radio cần thiết. Độ phủ khách hàng cao: Vì khả năng định tuyến đa chặng của mạng, client không cần phải kết nối trực tiếp với một trạm cơ sở đơn miễn là một client có kết nối tới bất kỳ một client khác, nó có thể truy cập tới Internet. Người ta đã chỉ ra rằng, đặc biệt đối với các trường hợp có vật cản lớn (tòa nhà cao tầng hay cây cối), một mạng WMN có thể tăng độ phủ của mạng lên đáng kể so với một giải pháp điểm-tới-nhiều điểm (ví dụ IEEE 802. Dễ dàng và đơn giản: Các router được cấu hình tự động, nên việc cài đặt là đơn giản.
Thêm một khách hàng mới tới vào một mạng WMN đã tồn tại có thể chỉ mất vài giờ đồng hồ thay vì vài tháng khi cài đặt các dây mới cho cáp hay DSL. Tin cậy: Đặc trưng của topo mesh và định tuyến adhoc làm cho mạng có khả năng đối phó được với những thay đổi của điều kiện môi trường và lỗi xảy ra ở các node. Đặc biệt nếu đa gateway được sử dụng, tất cả các điểm- lỗi đơn bị loại bỏ. Một giao thức định tuyến có thể định tuyến lại nhanh chóng xung quanh điểm hoặc node bị lỗi, và trong trường hợp gateway lỗi, nó có thể phân phối lại các node cho gateway gần nhất.
Năng lượng: Các node của một mạng mesh – ngoại trừ những node duy trì một đường up-link với Internet - có thể được xây dựng với yêu cầu năng lượng thấp. Tích hợp: Mạng WMN có thể dễ dàng tích hợp với các công nghệ mạng đã có (mạng tế bào, mạng Wi-Fi, Wi-MAX, mạng cảm biến) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các phương pháp multicast truyền thống Việc triển khai các thuật toán định tuyến multicast trong một mạng lớn là một công việc phức tạp. Luận văn sẽ trình bày một số thuật toán định tuyến multicast truyền thống, bắt đầu từ thuật toán đơn giản nhất như “flooding” (trút đổ) hoặc “spanning trees” (cây khung) trước khi mô tả “reverse path forwarding” (chuyển tiếp đường ngược), “Steiner trees,” (cây Steiner) hoặc “shared trees” (cây chia sẻ) và “per- souce trees” (cây mỗi nguồn).1 Phương pháp định tuyến “Trút đổ” Có một số biến dạng của thuật toán trút đổ, nhưng tất cả chúng cùng chia sẻ một nguyên lý chung. Một node trong mạng sẽ nhận một gói tin được gửi tới một đích multicast.
Đầu tiên nó sẽ cố gắng xác xác định rằng đây có phải là lần đầu tiên nhận một gói tin nhất định hay không. Nếu là lần đầu tiên, nó sẽ gửi một bản sao của gói tin trên tất cả các giao diện (ngoại trừ giao diện đến), đảm bảo rằng gói tin thực sự đang đến tất cả các đích đến trong mạng. Thuật toán trút đổ được sử dụng chủ yếu khi cần tính chất robustness của mạng. Nó không phụ thuộc vào bất cứ loại bảng định tuyến nào, và ích lợi của nó là ít xảy ra lỗi truyền vì gói tin sẽ được nhận bởi tất cả các đích vì sẽ tồn tại ít nhất một đường.
Nhưng thuật toán này cần cả tài nguyên về bộ nhớ vì nó cần một điểm vào cho mỗi gói tin và tài nguyên truyền thông vì nó sử dụng tất cả các đường có sẵn. Nhược điểm của thuật toán trút đổ: Thuật toán này rất lãng phí băng thông. Trong khi một thông điệp chỉ có một đích đến thì nó được gửi tới tất cả các host. Điều này làm tăng tải cực đại của mạng.
Các thông điệp bị nhân bản trong mạng cũng làm tăng tải lên băng thông mạng cũng như tăng độ phức tạp xử lý trong việc.2 Phương pháp định tuyến “Cây khung” Một giải pháp hiệu quả hơn trút đổ là kỹ thuật “cây khung”. Cây khung là cây nối tất cả các đỉnh với nhau (các đỉnh bao gồm các router và các host). Cây khung được xây dựng ở thời điểm ban đầu khi khởi tạo mạng. Đầu tiên chọn ra một router 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “chính”, router này trở thành trung tâm của mạng, sau đó bởi việc tạo ra các liên kết dựa trên đường ngắn nhất giữa các router khác và trung tâm.
Khi cây khung đã được xây dựng, việc truyền các gói tin multicast trở nên đơn giản. Khi nhận được một gói tin multicast, router lập tức chuyển tiếp tới tất cả các liên kết đi ra mà thuộc cây khung. Vì cây khung là không lặp, nên đảm bảo rằng gói tin sẽ không bị lặp, và gói tin sẽ tới tất cả các đích. Kỹ thuật cây khung có ưu điểm là khả năng chịu lỗi cao và không yêu cầu nhiều bộ nhớ: chỉ cần các biến trên mỗi giao diện mạng để xác định rằng nó “on” (bật) hay “off” (tắt) cây khung.
Nhưng kỹ thuật này về cơ bản có 2 nhược điểm là : không quan tâm tới các thành viên của nhóm và tập trung tất cả các traffic vào một số các đường đi nhất định.