Chương 1. Tổng quan về kí quỹ cải tạo phục hồi môi trường Chương 2. Thực trạng kí quỹ cải tạo phục hồi môi trường trong quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Chương 3. Các giải pháp tăng cường việc triển khai công cụ kí quỹ cải tạo phục hồi môi trường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KÍ QUỸ CẢI TẠO, PHỤC HỒI MÔI TRƢỜNG 1.
Cơ sở lý thuyết về kí quỹ cải tạo phục hồi môi trƣờng 1. Khái niệm Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo khoản 1 Điều 3 Luật BVMT năm 2014, môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ (Khoản 1 Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010) Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, làm giàu và các hoạt động có liên quan (Khoản 7 Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010) Cải tạo, phục hồi môi trường là hoạt động đưa môi trường, hệ sinh thái tại khu vực môi trường bị tác động về gần với trạng thái môi trường ban đầu hoặc đạt các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường, phục vụ các mục đích có lợi cho con người.
Kí quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường. Các doanh nghiệp/ dự án có tiềm năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường phải ký gửi một khoản tiền vào Quỹ Môi trường hoặc một tài khoản ngân hàng bị kiểm soát bởi cơ quan quản lý nhà nước. Nếu thực hiện xong việc phục hồi môi trường, khoản tiền kí quỹ sẽ được trả lại cho doanh nghiệp, nếu không, khoản tiền kí quỹ sẽ bị tịch thu để phục vụ việc khắc phục hậu quả. 7 Kí quỹ cải tạo phục hồi môi trường (sau đây viết tắt là kí quỹ CTPHMT) trong khai thác khoáng sản là việc tổ chức, cá nhân gửi một khoản tiền vào Quỹ BVMT Việt Nam hoặc Quỹ BVMT địa phương, để đảm bảo trách nhiệm cải tạo, phục hồi môi trường của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động khai thác khoáng sản (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ) 1.
Nguyên tắc xác định kí quỹ Công cụ quản lý môi trường là các phương thức hay biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng, mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Khi nhắc tới công cụ quản lý môi trường không thể không nói tới công cụ kinh tế (EIs) - một trong những công cụ quan trọng nhất để BVMT, đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là trong các nước công nghiệp phát triển (OECD). Công cụ kinh tế trong BVMT được xây dựng dựa trên các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường nhằm điều hòa xung đột giữa mục tiêu BVMT với mục tiêu phát triển kinh tế.
Trong Chuyên đề Khái niệm và vai trò của công cụ quản lý môi trường của PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, các khái niệm về công cụ kinh tế được đưa ra như sau: - Công cụ kinh tế là những phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của hoạt động thường xuyên tác động tới môi trường, nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoại môi trường. - Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đề ra quyết định nhằm đạt tới mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi phí cho BVMT. - Công cụ kinh tế đơn giản là việc Chính phủ có thể thay đổi hành vi ứng xử của mọi người thông qua việc lựa chọn những phương thức kinh tế khác nhau hoặc giảm thiểu chi phí trên thị trường nhằm mục tiêu môi trường. - Công cụ kinh tế là biện pháp “cung cấp tín hiệu thị trường để giúp cho những người ra quyết định ghi nhận hậu quả môi trường trong việc lựa chọn của họ” Về phương diện kinh tế, các công cụ kinh tế là nội bộ của các tác động bên ngoài (chi phí môi trường) thông qua việc tăng giá mà các cá nhân và các ngành công 8 nghiệp phải trả để sử dụng các nguồn lực hoặc phát thải các chất gây ô nhiễm.
Do ô nhiễm hoặc việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trở nên đắt đỏ hơn, người gây ô nhiễm và người tiêu dùng có các biện pháp khuyến khích tài chính để giảm các hoạt động này thông qua bảo tồn, thay thế vật liệu hoặc hợp lý hóa tiêu dùng. Từ khái niệm trên, ta có thể khái quát nội dung của công cụ kinh tế như sau: “Công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, nâng giá của các hành động làm tổn hại đến môi trường lên hoặc hạ giá của các hành động BVMT xuống. Công cụ kinh tế dành khả năng lựa chọn cho các công ty và cá nhân hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ”. Như vậy công cụ kinh tế luôn hỗ trợ cho các quy định của công cụ mênh lệnh và kiểm soát.
Phương tiện chính sách “Mệnh lệnh và kiểm soát” được tiến hành thông qua những cơ chế ra lệnh cho các hành động môi trường hoặc xác định những hậu quả môi trường nếu không tuân thủ các qui chế đã ban hành. Các công cụ kinh tế duy trì một tập hợp tương đối rộng rãi các hành động môi trường có tính pháp lý nhưng có xác định những hậu quả khác nhau đối với những sự lựa chọn khác nhau. Chúng vẫn cần bắt buộc phục tùng với hậu quả xảy ra. Các công cụ kinh tế cung cấp biện pháp khuyến khích tài chính cho người gây ô nhiễm và người sử dụng tài nguyên thiên nhiên để giảm lượng chất gây ô nhiễm cũng như việc sử dụng không bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Trong tài liệu Training Resource Material - The Use of Economic Instruments for Environmental and Natural Resource Management của UNEP 2009, công cụ kinh tế được chia thành 3 nhóm công cụ cơ bản: (i) Công cụ dựa trên giá : Những công cụ này làm tăng giá ô nhiễm và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên,như thuế trực tiếp, thuế đầu vào và đầu ra, phí phát thải, đặt cọc hoàn trả, trợ cấp. (ii) Công cụ dựa trên quyền sở hữu: Các công cụ này xác định, điều chỉnh, hoặc tạo ra các quyền sở hữu để cải thiện các thiệt hại về môi trường. Họ xác định luật có thể thi hành cơ bản đối với quyền sở hữu và sử dụng tài sản hữu hình (ví dụ: đất đai) và vô hình (ví dụ: giấy phép). Các công cụ cụ thể hơn bao gồm giấy phép phát thải thương mại trong quản lý ô nhiễm, hạn ngạch chuyển nhượng cá nhân 9 trong quản lý thủy sản, quyền chăn thả gia súc trong quản lý phạm vi và quyền phát triển chuyển tiếp trong quản lý tài sản.
(iii) Các công cụ dựa trên pháp luật, tự nguyện và thông tin. Đối tượng của các công cụ dựa trên pháp lý bao gồm các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm gây ra thiệt hại về môi trường. Hình thức của công cụ này bao gồm hình phạt hình sự, tiền phạt, hình thức trách nhiệm dân sự, và trái phiếu thực hiện (kí quỹ môi trường). Các công cụ dựa trên tự nguyện và dựa trên thông tin bao gồm các thỏa thuận môi trường tự nguyện, các chiến dịch thông tin, ghi nhãn sinh thái và các chứng nhận khác.
Kí quỹ môi trƣờng là khoản thanh toán trước cho các cơ quan có thẩm quyền về những thiệt hại môi trường tiềm tàng, trong đó mức chi trả thường thay đổi theo mức độ thiệt hại tiềm ẩn. Có nhiều cách khác nhau trong đó tài chính có thể cung cấp, và một trong số đó là cung cấp vốn đầu tư vào một tổ chức được tín nhiệm, và số tiền kí quỹ sẽ được hoàn lại khi thực hiện các quy định đã đề ra. Tuy nhiên, điều này có thể làm ảnh hưởng đến việc lưu chuyển dòng tiền của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể làm giảm ảnh hưởng này bằng cách vay vốn với cơ quan, tổ chức tài chính tương tự như hình thức bảo hiểm rủi ro chung khác.
Yêu cầu trong việc thực hiện kí quỹ môi trường này là chính phủ phải có biện pháp phòng khi có sự vỡ nợ, chối bỏ thực hiện các cam kết khi kí quỹ của doanh nghiệp (James 1997). “kí quỹ môi trường là phù hợp nhất với các tình huống có nguồn gây ra thiệt hại môi trường tiềm ẩn và thiệt hại có thể được ước tính hợp lý” (Young et al 1996, tr31) Trong hoạt động khai thác khoáng sản, nếu không có chính sách, biện pháp quản lý phù hợp thì cuối cùng nhà nước thường là người đứng ra thu dọn các sự cố môi trường, tiến hành san lấp, phục hồi khu mỏ bị bỏ rơi sau khi khai thác. Phần lớn chi phí môi trường như phục hồi môi trường suy thoái, có thể được ngăn chặn hoặc được chi trả bởi người gây ô nhiễm hoặc người được hưởng lợi từ môi trường. “Bằng cách thiết lập hệ thống đặt cọc hoàn trả, kí quỹ môi trường, bảo lãnh ngân hàng cho phù hợp với quy định về môi trường, chính phủ có thể làm giảm các chi phí phục hồi môi trường.
kí quỹ môi trường bảo đảm các điều kiện sau: (i) các công ty khai thác tài nguyên và nhà cung cấp tiềm năng thực hiện các biện pháp thích 10 hợp để giảm thiệt hại về môi trường do họ gây ra, (ii) ảnh hưởng đến việc cải tạo phục hồi môi trường, (iii) đảm bảo có sẵn và đủ chi phí để dọn dẹp chất thải và phục hồi môi trường bị hư hỏng do bất cứ ai hay bất cứ hành động nào không tuân thủ thực hiện việc cải tạo phục hồi. Về bản chất, kí quỹ môi trường không phải là hạn chế đối với hoạt động kinh tế, số tiền kí quỹ có thể được đầu tư vào các tài khoản có lãi hoặc thay thế bằng hình thức bảo lãnh ngân hàng.