Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ÁP DỤNG HÌNH PHẠT 1. Cơ sở lý luận của áp dụng hình phạt 1. Khái niệm áp dụng hình phạt Hình phạt có mục đích đã được quy định tại Điều 31 BLHS năm 2015: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Hoạt động ADHP của TAND phải tuân thủ các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, kể từ khi thụ lý hồ sơ; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử; đưa vụ án ra xét xử; ban hành và giao các quyết định, bản án của TAND.
Kết quả của tiến hành xét xử các vụ án hình sự, là Tòa án (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân) phải ra một phán quyết đối với hành vi phạm tội được xét xử công khai tại phiên tòa. Một trong những nội dung của ADHP của Toà án là quyết định hình phạt. “Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngay sau khi đã xác định tội danh đối với hành vi phạm tội. Nếu định tội là tiền đề, là cơ sở cho quyết định hình phạt, thì quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử” [7, tr.
Ngoài ra, ADHP còn bao gồm miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng …. Miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp người bị kết án thỏa mãn các điều kiện do BLHS quy định, do thay đổi chính sách hình sự hay mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội không lớn và được TAND quyết định cho họ miễn trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: 7 Áp dụng hình phạt là một hình thức thực hiện pháp luật được thực hiện bởi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những người được Nhà nước trao quyền trên cơ sở những quy định pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, xác định sự thật khách quan của vụ án, lựa chọn loại và mức hình phạt đối với người hoặc pháp nhân phạm tội phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và trong những trường hợp mà pháp luật quy định, quyết định miễn trách nhiệm hình sự hay xử lý vật chứng. Đặc điểm của áp dụng hình phạt Từ khái niệm nêu trên về ADHP có thể thấy ADHP là một hoạt động áp dụng pháp luật và có những đặc điểm sau: Thứ nhất, ADHP là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do TAND mà trực tiếp là HĐXX tiến hành: Tính chất quyền lực Nhà nước trong ADHP của TAND trước hết được thể hiện ở chỗ hình phạt do Nhà nước ban hành và thông qua cơ quan, cá nhân có thẩm quyền áp dụng đối với người hoặc pháp nhân phạm tội và có tính chất thực hiện bắt buộc đối với họ.
TAND là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử, nhân danh Nhà nước xét xử các vụ án hình sự. Thông qua hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Hội đồng xét xử, (thông thường gồm: Nếu xét xử rút gọn thì có 01 Thẩm phán; nếu vụ án xét xử theo thủ tục bình thường là 01 thẩm phán và 02 hội thẩm nhân dân; nếu vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì thành phần HĐXX có 02 thẩm phán và 03 hội thẩm nhân dân; còn HĐXX phúc thẩm là 03 thẩm phán, trong trường hợp cần thiết có thêm 02 hội thẩm. 8 Như vậy, ADHP của TAND là hoạt động của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nhân danh quyền lực nhà nước để tuyên một chủ thể có tội và phải chịu mức hình phạt tương ứng hoặc không có tội. Thứ hai, ADHP là hoạt động cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hình sự đối với hành vi phạm tội và người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội: Tính cá biệt hoá của hoạt động ADHP được thể hiện các địa chỉ để ADHP là xác định, gồm tất cả sự việc, con người, tập thể, thời gian, không gian; các quyết định ADHP được ban hành cụ thể đối với từng quan hệ xã hội xác định.
Những người nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử cần xác định những hành vi phạm tội được xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành…, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nếu trường hợp có đồng phạm thì xác định vai trò của từng bị cáo trong vụ án … xác định sự thật khách quan của vụ án như: Xác định các giai đoạn của quá trình thực hiện tội phạm từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc; là thuộc trường hợp hành động hay không hành động; đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không; nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì đó là tội gì? gồm những ai? … Tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập có tại hồ sơ, vào quá trình kiểm tra chứng cứ, thẩm vấn, tranh tụng tại phiên toà, xem xét bị cáo bị Viện kiểm sát kết tội là có căn cứ hay không? từ đó, có những quyết định đúng đắn cho việc giải quyết vụ án là trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án hay tuyên bị cáo có tội hoặc không có tội. Trường hợp có tội, thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hoàn cảnh xảy ra tội phạm, các vấn đề về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng loại và mức 9 hình phạt đối với bị cáo sao cho đảm bảo xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thứ ba, hoạt động ADHP được thực hiện chủ yếu tại phiên tòa: Tại phiên tòa sau khi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thẩm vấn và kiểm chứng, đánh giá những chứng cứ thu nhập được trong tất cả các giai đoạn tố tụng một cách công khai, khách quan, toàn diện. Từ đó, mới có quyết định áp dụng loại hình phạt tương xứng hay miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Phiên tòa xét xử án hình sự được xét xử công khai (trừ những trường hợp xét xử kín theo luật định đó là: Giữ bí mật quốc gia, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, người bị hại bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm hoặc yêu cầu chính đáng của người bị hại,…). Phiên toà công khai, quần chúng nhân dân, các cơ quan Báo chí, Đài phát thanh được quyền tham gia. Phiên tòa xét xử hình sự được diễn ra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa và các thành viên của HĐXX. Tại phiên toà, nguyên tắc tranh tụng luôn được đảm bảo.
Các bị cáo được quyền trình bày ý kiến và yêu cầu của mình và tranh luận việc bị truy tố và kết tội là đúng hay sai; các luật sư có quyền đưa ra chứng cứ và tham gia tranh luận để bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mà họ đảm trách. Qua xét hỏi tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm, TAND kiểm tra công khai tính đúng đắn việc áp dụng pháp luật của các cơ quan Công an, Viện kiểm sát trong quá trình tiến hành tố tụng thông qua việc kiểm tra các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và xuất trình tại phiên toà. Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tuân thủ các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan. Từ đó chúng ta thấy rằng, 10 ADHP chính là áp dụng các quy định của pháp luật mà chủ yếu là BLHS và được tiến hành trong giai đoạn xét xử.
Thứ tư, hoạt động ADHP được tiến hành theo trình tự, tố tụng chặt chẽ. Chủ thể ADHP là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Trong tiến trình ADHP phải đảm bảo được tiến hành theo trình tự chặt chẽ, những quy định bắt buộc để xét xử các vụ án theo thẩm quyền. Áp dụng hình phạt là khâu cuối của hoạt động xét xử của Tòa án.
Việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật góp phần bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân; các bước tiến hành tố tụng được chính xác, khách quan; các bản án, quyết định ADHP của TAND bảo đảm đúng pháp luật. Thứ năm, áp dụng hình phạt mang tính tư duy sáng tạo cao Các chế tài trong BLHS năm 1999, được xây dựng theo kiểu tùy nghi lựa chọn chiếm đa số trong cơ cấu các điều luật, khung hình phạt tối thiểu và tối đa cách nhau 10 năm. BLHS 2015, đã có nhiều cải tiến nhưng các khung hình phạt chế tài xây dựng theo kiểu tùy nghi, lựa chọn vẫn còn nhiều. Do đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu, đánh giá từng bị cáo trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
Từ đó, áp dụng nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với từng người phạm tội để áp dụng một mức hình phạt tương xứng. Như vậy, để áp dụng hình phạt đúng, Thẩm phán và Hội thẩm phải là những người có trình độ, khả năng, năng lực, kinh nghiệm xét xử cao; có bổn phận, trách nhiệm trước số phận của con người và pháp nhân. Một hình phạt được áp dụng đúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau và nhất là yếu tố con người. Bởi vậy, ADHP là hoạt động khó khăn, phức tạp.
Nói cách khác, ADHP là hoạt động mang tính tư duy sáng tạo cao. Nội dung của áp dụng hình phạt 1. Quyết định hình phạt - Quyết định hình phạt chính Quyết định hình phạt chính đối với người phạm tội là việc tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt đã được quy định đối với tội phạm (cấu thành tội phạm) để áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thực hiện tội phạm đó.