Chương 1: Cơ sở lý luận về Bảng cân bằng điểm (Balance Scorecard –BSC) - Chương 2: Thực trạng áp dụng Bảng cân bằng điểm (Balance Scorecard – BSC) tại một số doanh nghiệp Việt Nam - Chương 3: Giải pháp và kiến nghị 123doc 4 CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM (BALANCE SCORECARD – BSC) 1.1 Sự ra đời của BSC Khái niệm bảng cân bằng điểm (tiếng Anh: Balanced Scorecard - BSC) lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1992 bởi hai giáo sư đại học Harvard là Robert S. Kaplan và David Norton với mục đích là thúc đẩy và đo lường hiệu quả hoạt động của các đơn vị kinh doanh. Bảng cân bằng điểm, với bốn phương diện: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học hỏi phát triển đã giúp cho các nhà quản lý có được bức tranh cân bằng về hiệu quả hoạt động hiện tại cũng như các nhân tố là động lực tăng trưởng cho tương lai. Khi mà thời đại công nghiệp dần bị thay thế bởi thời đại thông tin và kéo theo là sự thay đổi từ tài sản hữu hình sang tài sản vô hình, thì các thước đo tài chính đã trở nên lỗi thời, với việc phân tích các sự kiện xảy ra trong quá khứ nó không thể giúp doanh nghiệp đánh giá được thành quả hoạt động, định hướng phát triển trong tương lai, và không kịp tạo được thế mạnh cạnh tranh với đối thủ trong điều kiện cạnh tranh khóc liệt này.
BSC ra đời đã giải quyết hiệu quả những hạn chế của các thước đo tài chính mang tính ngắn hạn và phản ánh kết quả quá khứ bằng việc bổ sung các thước đo là động lực phát triển doanh nghiệp trong tương lai. BSC như là một khuôn mẫu cung cấp một cấu trúc các thước đo khác nhau về thành quả hoạt động của tổ chức. Kể từ khi được giới thiệu nó đã được phát triển và đạt được một mức độ công nhận cao là một trong những sáng kiến gần đây được sử dụng rộng rãi nhất trong kế toán quản trị, có thể là vì những thuộc tính sống động của nó. 123doc 5 Với các ưu điểm vượt trội, BSC nhanh chóng được hàng ngàn các doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận khắp nơi trên thế giới áp dụng, trong đó có Việt Nam.
Theo Tạp chí Fortune của Mỹ 2009, khoảng 500 trong danh sách fortune 1000 đã sử dụng BSC. Và, BSC đã được tạp chí Hardvard Business Review đánh giá là một trong 75 ý tưởng có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20.2 Khái niệm BSC BSC nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống để đo lường thành quả hoạt động trong một tổ chức thông qua bốn phương diện: tài chính, khách hàng, phương diện hoạt động kinh doanh nội bộ và phương diện học hỏi phát triển.1) Để thành công TÀI CHÍNH về mặt tài chính, tiêu Mục đo Thƣớc chuẩn Tiêu động Hành chúng ta được cổ đông đánh giá như thế nào? Để đạt được KHÁCH HÀNG Để thỏa mãn QUI TRÌNH NỘI BỘ tầm nhìn, hình Tầm nhìn cổ đông và tiêu Mục đo Thƣớc chuẩn Tiêu động Hành tiêu Mục đo Thƣớc chuẩn Tiêu động Hành ảnh của chúng khách hàng, ta trước khách & Chiến qui trình kinh hàng như thế lược doanh như nào? thế nào? Để đạt được tầm HỌC HỎI VÀ PHÁT TRIỂN nhìn, chúng ta sẽ tiêu Mục đo Thƣớc chuẩn Tiêu động Hành duy trì khả năng để thay đổi và phát triển như thế nào? Sơ đồ 1.1 – Bốn chỉ tiêu của bảng cân bằng điểm (Nguồn: Robert S. The balance scorecard: measuring total business unit Performance. In: Advance Management Accounting.
Prentice Hall International, Inc, pp.3 Sự cần thiết của BSC Thời đại thông tin thay thế thời đại công nghiệp cùng với môi trường cạnh tranh khốc liệt toàn cầu đã tác động đến toàn thể các tổ chức trên toàn thế giới. Ðể thấy được sự cần thiết của phương pháp BSC trong đánh giá thành quả hoạt động cần đi vào phân tích các yếu tố chính dẫn đến sự hình thành nên BSC, như: - Sự gia tăng của tài sản vô hình - Hạn chế của hệ thống báo cáo tài chính và các thước đo truyền thống - Hạn chế của hệ thống kế toán quản trị truyền thống 1.1 Sự gia tăng của tài sản vô hình Trong suốt thời kỳ công nghiệp, các doanh nghiệp đã xây dựng và phát triển hệ thống kiểm soát tài chính nhằm kiểm soát, đánh giá sự hiệu quả trong việc sử dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Vào thế kỷ 20, xuất hiện các công cụ tài chính ROI (1908), RI (1950) (Trần Thị Hương, 2011) … đã giúp các doanh nghiệp trong thời gian này kiểm soát được tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp rất tốt và hữu hiệu. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã đưa nhân loại tiến đến thời đại công nghệ thông tin với sự trợ giúp đắc lực của máy vi tính và mạng thông tin toàn cầu internet.
Thế mạnh của các tổ chức trong thời đại công nghiệp như sự chuyên môn hoá, ứng dụng khoa học công nghệ để có máy móc thiết bị hiện đại và khai thác chúng phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm hàng loạt, sự cắt giảm chi phí, quản lý tốt tài chính, tài sản và các khoản nợ …. Đã không còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức mà thay vào đó, lợi thế cạnh tranh của các tổ chức là khả năng huy động và triển khai tài sản vô hình, tài sản mà không phải doanh nghiệp nào cũng tạo ra được. Để hình thành nên tài sản vô hình là cả một quá trình tạo dựng lâu dài, tạo nên đặc trưng của doanh nghiệp vì rất ít tài sản vô hình của doanh nghiệp giống nhau. Tài sản vô hình được tạo ra từ những 123doc 7 việc mà ở thời đại công nghệ thông tin, các doanh nghiệp thường phớt lờ và không thấy được giá trị to lớn của nó, như: - Phát triển những mối quan hệ với khách hàng để duy trì lòng trung thành của khách hàng hiện tại và phát triển những phân khúc thị trường mới; - Phát triển những dòng sản phẩm và dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu những khách hàng tiềm năng; - Sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ chất luợng cao chi phí thấp sẵn sàng phục vụ khách hàng; - Xây dựng kỹ năng và động lực thúc đẩy nhân viên để họ không ngừng phát triển khả năng, chất lượng và sự hưởng ứng trong công việc; - Triển khai công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu; - Phát triển nguồn nhân lực….
Ngày nay, nhiều tổ chức đã thấy được sức mạnh của các tài sản vô hình và ra sức đầu tư để có được các tài sản này khi mà nhận ra được rằng việc có được tài sản vô hình là cả một quá trình tạo dựng, nó có thể giúp doanh nghiệp phát triển vượt trội nhưng khi đánh mất đi tài sản này có thể ảnh hưởng không tốt đến tương lai hay doanh nghiệp sẽ gặp phải tình trạng tình hình kinh doanh tuột dốc không phanh. Theo một nghiên cứu của viện Brookings thì sự gia tăng giá trị của tài sản vô hình trong các tổ chức từ chỗ tài sản vô hình chỉ chiếm 38% nguồn giá trị của tổ chức (năm 1982) thì đến năm 1992 con số này đã là 62% và đến những năm đầu thế kỷ 21 con số này là 75%, đã đưa đến một yêu cầu đòi hỏi hệ thống đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức phải ghi nhận đầy đủ giá trị và quản lý tài sản vô hình để ngày càng mang lại nguồn lợi cho tổ chức.2 Hạn chế của hệ thống BCTC và các thƣớc đo tài chính - Hạn chế của BCTC: 123doc 8 Trong thời đại cạnh tranh thông tin, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào việc phát triển nhanh chóng kỹ thuật mới để tăng tài sản hữu hình hay dựa vào việc quản lý tốt tài sản hữu hình và nguồn vốn để tạo ra lợi thế cạnh tranh, mà phải tập trung vào khai thác tài sản hữu vô hình. Trên hệ thống BCTC của doanh nghiệp chưa thể hiện các tài sản vô hình như: mối quan hệ khách hàng, sản phẩm dịch vụ chất lượng cao sẵn sàng phục vụ khách hàng với chi phí thấp, sản phẩm dịch vụ mới, nguồn nhân lực …. Đặc biệt, hệ thống BCTC chưa phản ánh được giá trị tài sản vô hình thuộc về trí tuệ của doanh nghiệp, trong khi, những tài sản này lại ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.
Hệ thống BCTC chưa cung cấp đầy đủ thông tin để giúp đánh giá được thành quả hoạt động của doanh nghiệp. - Hạn chế của thước đo tài chính truyền thống Dù mục tiêu tài chính là đích đến cuối cùng của đại bộ phận các tổ chức trên thế giới nhưng sự phụ thuộc gần như duy nhất vào những thước đo tài chính trong thời đại công nghiệp đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết không thể khắc phục được khi đánh giá thành quả hoạt động của các tổ chức trong thời đại thông tin. Thứ nhất, các thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá thành quả hoạt động. Do sự hạn chế của hệ thống BCTC ở trên, nó vẫn cung cấp các thông tin tài chính mà không cung cấp đầy đủ các thông tin phi tài chính.
Vì thế, các thước đo tài chính chỉ đánh giá được tình hình tài chính, chưa lý giải được tại sao do- anh nghiệp đạt được hiệu quả hoạt động như thế. Thứ hai, các công cụ tài chính không tiên liệu được các thành công trong tương lai. Chỉ số đo tài chính là cần thiết, nhưng chỉ số này chỉ cho chúng ta biết điều đã xảy ra trong quá khứ, nơi mà hoạt động kinh doanh 123doc 9 đã xảy ra. Chỉ số tài chính không cho chúng ta biết vấn đề gì sẽ xảy ra ở phía trước và trong tương lai hoạt động doanh nghiệp sẽ ra sao.
Thứ ba, hy sinh lợi ích trong dài hạn để đạt được các mục tiêu tài chính ngắn hạn Quay về trước thập kỷ 90, hệ thống quản trị của hầu hết các công ty vẫn chủ yếu dựa trên các chỉ số tài chính và ngân sách để đo lường mức độ thành công. Một hệ thống như vậy khiến các công ty có xu hướng tập trung vào ngắn hạn và các chỉ số tài chính chỉ là kết quả cuối cùng phản ánh sự đã rồi, nó giống như người lái xe chỉ nhìn vào gương chiếu hậu thay vì nhìn về phía trước để lái xe.