Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu trên thế giới Ý kiến của KTV trên báo cáo kiểm toán là vấn đề thú vị cho nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, kết luận đưa ra bởi các nghiên cứu đã được thực hiện hiện có những mâu thuẫn, chưa thống nhất. Theo Giuseppe Ianniello and Giuseppe Galloppo (2015), hầu hết các nghiên cứu về phương diện này được phân loại thành hai hướng gồm: - “Experimental studies”- các nghiên cứu thực nghiệm: Các nghiên cứu kiểm tra phản ứng của người ra quyết định (giám đốc tín dụng, nhà phân tích tài chính) với thay đổi trong các loại ý kiến kiểm toán; và - “Market-based studies”- các nghiên cứu dựa vào thị trường: Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu lưu trữ để cố gắng thu thập phản ứng của thị trường cổ phiếu xung quanh thời điểm công bố thông tin báo cáo kiểm toán.
Với hướng nghiên cứu thứ nhất – nhóm nghiên cứu thực nghiệm: Theo Bessell et al. (2003), phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm kết luận rằng những người sử dụng báo cáo kiểm toán đã không có thêm sự tin tưởng với báo cáo ý kiến ngoại trừ. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cung cấp bằng chứng rằng các báo cáo kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần thích hợp với quá trình ra quyết định của những người sử dụng BCTC. Một số nghiên cứu thuộc nhóm này gồm: Robertson (1988) thực hiện nghiên cứu nhằm điều tra liệu thuật ngữ báo cáo kiểm toán ý kiến ngoại trừ có ảnh hưởng đến phản ứng của các nhà phân tích tài chính với báo cáo kiểm toán không.
Tác giả đã sử dụng phương pháp thực nghiệm bằng cách gửi một bộ BCTC từ một công ty giải định, được kèm theo một báo cáo kiểm toán với một loại ý kiến không phải chấp nhận đến một mẫu ngẫu nhiên gồm 1000 thành viên của Liên đoàn phân tích tài chính Mỹ. Các chuyên gia tài chính được hỏi rằng liệu họ có cảm thấy báo cáo kiểm toán đã làm tăng sự tin tưởng của họ đối với các BCTC hay không, liệu họ có dựa vào thông tin này để ra các quyết định đầu tư; và họ có cảm thấy các thông tin này đáp ứng nhu cầu của họ khi phân 7 tích. Nghiên cứu đã thu được 176 phản hồi. Kết quả từ phản hồi này cho thấy rằng các nhà phân tích không đưa ra bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào giữa các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán.
Tuy nhiên, báo cáo kiểm toán ý kiến ngoại trừ đạt được xếp hạng cao nhất về sự tin cậy, phù hợp và hài lòng và ý kiến này dễ hiểu hơn các loại khác. Gul (1990) đã sử dụng cách tiếp cận thực nghiệm để điều tra về sự ảnh hưởng của cả ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến ngoại trừ với giá cổ phiếu được ước đoán tại Úc. Những người tham gia là nhân viên ngân hàng, gồm 34 đối tượng, trong độ tuổi từ 29-45 tuổi, có kinh nghiệm từ 5 đến 24 năm trong các vị trí khác nhau liên quan đến kế toán ở ngân hàng. Những người này được gửi một bộ thông tin giả định giống nhau, mỗi bộ thông tin đi cùng với hoặc ý kiến chấp nhận toàn phần hoặc ý kiến ngoại trừ.
Bên tham gia đã được yêu cầu ước tính giá cổ phiếu của công ty giả định. Tác giả sử dụng kỹ thuật kiểm định ANOVA. Kết quả cho thấy rằng ý kiến kiểm toán ngoại trừ có ảnh hưởng tiêu cực đến biến động giá cổ phiếu. Được được thực hiện tại Úc, Bessell et al.
(2003) cũng dùng phương pháp thực nghiệm để điều tra về nội dung thông tin của giả định hoạt động liên tục trong báo cáo kiểm toán không phải báo cáo chấp nhận toàn phần. Đối tượng tham gia khảo sát là các thành viên của Học viện tài chính ngân hàng Úc. Họ gửi các báo cáo kiểm toán với các loại ý kiến khác nhau kèm theo bảng câu hỏi tới một mẫu 500 thành viên của tổ chức. Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng “ vấn đề nhấn mạnh” và “báo cáo ngoại trừ” có nội dung thông tin nếu công ty đang không gặp khó khăn về tài chính.
Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng nếu công ty đang trong tình trạng khủng hoảng tài chính, ý kiến không phải chấp nhận toàn phần được đưa ra không tăng nhiều về nhận thức rủi ro hoặc ảnh hưởng tới việc ra quyết định. Lin et al., (2003) đã điều tra phản hồi của người dùng với ý kiến ngoại trừ ở Trung Quốc bằng phương pháp thực nghiệm. Nhóm nghiên cứu sử dụng loại báo cáo kiểm toán như một biến trong thử nghiệm và đã tìm thấy các phản ứng hổn hợp 8 từ những người tham gia đối về ảnh hưởng của báo cáo kiểm toán ý kiến ngoại trừ lên sự hiểu biết của người sử dụng và việc sử dụng các BCTC. Nhìn chung, những người sử dụng ở Trung Quốc, cụ thể người cho vay nhận thấy ý kiến ngoại trừ có một số tác động tiêu cực đến độ tin tưởng của các BCTC.
Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể được tìm thấy đối với các nhà đầu tư và các quyết định cho vay nợ liên quan đến việc sử dụng báo cáo kiểm toán ngoại trừ hay ý kiến chấp nhận toàn phần. Kết quả của nghiên cứu cho rằng, báo cáo kiểm toán ngoại trừ theo kiểu Mỹ đã khá hạn chế “nội dung thông tin” cho người sử dụng trong môi trường hiện tại của Trung Quốc và cần phải cải thiện hơn nữa các chuẩn mực và thực hành kiểm toán ở Trung Quốc. Czernkowski et al., (2010) cũng thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán với biến động giá cổ phiếu tại Trung Quốc, tuy nhiên nghiên cứu thực hiện trong bối cảnh có sự đưa ra một số thay đổi về quy định quan trọng. Dữ liệu nghiên cứu là báo cáo kiểm toán năm của các công ty cổ phiếu A-Share được niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải (SSE), từ năm 1999 đến 2003.
Ngược lại với các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này đã không tìm thấy ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần có giá trị thông tin đáng kể với các nhà đầu tư Trung Quốc, dù những thay đổi về quy định. Tuy nhiên, khi phân chia mẫu theo năm, có bằng chứng yếu về phản ứng của giá cổ phiếu với ý kiến không phải chấp nhận toàn phần vào năm 2003. Với hướng nghiên cứu thứ hai – nghiên cứu dựa vào thị trường, một số nghiên cứu đã được thực hiện và cũng cho những kết quả chưa thống nhất. Có thể kể đến những nghiên cứu sau: Baskin (1972), sử dụng mô hình nghiên cứu thị trường để điều tra ảnh hưởng của loại “ý kiến kiểm toán ngoại trừ sự nhất quán” đến quyết định của nhà đầu tư tại Mỹ.
Mẫu là 135 công ty được xác định có sự thay đổi kỹ thuật kế toán trong giai đoạn 1965-1968 và 135 công ty kiểm tra thêm để đối chiếu trong cùng giai đoạn. 9 Kết quả đã đưa đến kết luận rằng có một ít ảnh hưởng và loại báo cáo kiểm toán ngoại trừ sự nhất quán không có nội dung thông tin cho nhà đầu tư. Firth (1978), cũng dùng phương pháp tương tự Baskin (1972) để điều tra những ảnh hưởng có thể của báo cáo kiểm toán ngoại trừ lên giá cổ phiếu vào ngày báo cáo kiểm toán được đưa ra và ảnh hưởng của báo cáo này đối với các quyết định đầu tư tại Mỹ. Nghiên cứu điều tra với một mẫu gồm 247 công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến ngoại trừ được lựa chọn.
Không giống như nghiên cứu trước của Baskin (1972), kết quả nghiên cứu này lại chỉ ra rằng giá cổ phiếu có phản ứng với ý kiến kiểm toán ngoại trừ, điều này có nghĩa loại ý kiến ngoại trừ có ý hưởng đến quyết định của nhà đầu tư. Ngoài ra, tác giả của lưu ý thêm rằng các nhà đầu tư phản ứng khác nhau với ý kiến kiểm toán ngoại trừ. Ameen et al., (1994) nghiên cứu ảnh hưởng của ý kiến kiểm toán ngoại trừ với các công ty trên thị trường OTC ở Mỹ. Các tác giả hướng đến đối tượng là các công ty nhỏ, không được niêm yết trên sàn NYSE và ASE với giả định ban đầu rằng với các công ty lớn, các nhà đầu tư có được nhiều thông tin thì không có nguồn thông tin nào trở nên thực sự nổi bật, được sử dụng chính trong ra quyết định.
Do đó, nhóm nghiên cứu kiểm tra ở các công ty nhỏ hơn với kỳ vọng nhóm này có thể bị ảnh hưởng bởi ý kiến kiểm toán nhiều hơn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp cửa sổ sự kiện để điều tra ảnh hưởng. Mẫu được sử dụng gồm 177 báo cáo ý kiến ngoại trừ được phát hành trong giai đoạn từ 1974-1988. Kết quả nghiên cứu cho thấy có phản ứng tiêu cực của thị trường trong giai đoạn trước ngày công bố ý kiến ngoại trừ nhưng không có phản ứng trong giai đoạn diễn ra việc công bố.
Chen et al. (2000) hướng đến điều tra phản ứng ở một thị trường đang nổi (Shanghai Stock Exchange) với các ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần, bao gồm ý kiến ngoại trừ và ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh. Mẫu nghiên cứu ban đầu gồm 884 quan sát từ các công ty cổ phiếu A-Share niêm yết trên sàn SSE trong giai đoạn 1995-1997. Kết quả thu được từ nghiên cứu cho thấy rằng cổ phiếu của công ty nhận được ý kiến ngoại trừ và chấp nhận toàn phần 10 với đoạn nhấn mạnh cho thu nhập bất thường âm.
Thêm nữa, phân tích theo năm cho thấy rằng các nhà đầu tư đã không phản ứng giống nhau về ảnh hưởng của hai loại ý kiến này ở năm thứ hai, điều này hàm ý sự học hỏi của thị trường. Nghiên cứu cũng cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể giữa phản ứng của thị trường với ý kiến ngoại trừ và ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn mở rộng. Al-Thuneibat et al., (2008), đã tìm hiểu ảnh hưởng của ý kiến ngoại trừ lên giá cổ phiếu và thu nhập ở Jordan. Nhóm tác giả đã tiến hành một nghiên cứu với mẫu là 42 quan sát từ các công ty cổ phần ở Jordan trong giai đoạn từ 2000-2005.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cửa sổ sự kiện trong khoảng thời gian 11 ngày gồm 5 ngày trước ngày công bố, ngày công bố và 5 ngày sau ngày công bố báo cáo kiểm toán.