CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT. Tổng quan nghiên cứu Trong những năm gần đây, nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu hay việc nghiên cứu tính hữu ích của thông tin kế toán trên báo cáo tài chính đang trở thành nhóm đề tài thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu tham gia ở cả trên thế giới và cả trong nước. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không giống nhau giữa các quốc gia và các ngành nghề. Nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Ball và Brown (1968) công bố trên tạp chí Journal of Accounting Research “An empirical evaluation of accounting income number” nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin lợi nhuận được công bố trên báo cáo tài chính với giá cổ phiếu.
Kết luận đưa ra là có bằng chứng về mối quan hệ này. Ball và cộng sự lập luận rằng khi có thông tin mới về một sự gia tăng bất thường của lợi nhuận doanh nghiệp sẽ làm gia tăng tương ứng giá trị của doanh nghiệp. Ball và cộng sự khảo sát các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán New York với số liệu được thu thập trong giai đoạn 1944 – 1946. Nghiên cứu của Brown (1970) công bố trên tạp chí Australian Accountant.
Nghiên cứu lặp lại nghiên cứu của Ball thực hiện trên thị trường chứng khoán Australia. Kết quả nghiên cứu cũng tương tự như nghiên cứu của Ball. Năm 1995, với đề tài “Lợi nhuận, giá trị sổ sách và cổ tức trong định giá cổ phiếu”, Ohlson đã rút ra được mô hình riêng của mình để nghiên cứu mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và hai thông tin BCTC là lợi nhuận và giá trị sổ sách trên một thị trường hiệu quả khi giá cổ phiếu phản ánh chính xác giá trị thực của nó. Mô hình nghiên cứu của Ohlson được xem là nền tảng lý thuyết vững chắc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nghiên cứu về chủ đề này từ đó đến nay.
Những năm gần đây, dựa trên mô hình Ohlson, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã ứng dụng rộng rãi tại các thị trường khác nhau trên thế giới: như ở Mỹ (Colin và cộng sự, 1997), Anh, Đức, Na Uy (King và Langli, 1998)… Kết quả cho 5 thấy có mối quan hệ rất chặt chẽ giữa thông tin trên BCTC và giá cổ phiếu. Theo nghiên cứu ở Mỹ của Colin và cộng sự (1997) cho biết thông tin BCTC giải thích 54% giá cổ phiếu trên TTCK Mỹ theo mô hình Ohlson. Theo King và Langli (1998), sử dụng mô hình hồi quy của thu nhập và giá trị sổ sách trên giá cổ phiếu và đưa ra một khả năng giải thích 70%, 60% và 40% tương ứng cho Vương quốc Anh, Na Uy và Đức. Từ những năm 2000 cho đến nay, cũng tại TTCK Mỹ, Hand J.M, Lamsman (2005) sử dụng mô hình Ohlson để định giá cổ phiếu với kết quả R2 hiệu chỉnh đạt 86%.
Ở TTCK Châu Mỹ Latinh, Rocío D. Vázquez và cộng sự (2007) đã tiến hành mô hình Ohlson trên TTCK Mexico đồng thời đưa thêm biến giải thích thứ ba là dòng tiền hoạt động – Operating cash flow. Kết quả của mô hình cải tiến này cho R2 hiệu chỉnh đạt 67%. Tiếp tục nghiên cứu ở TTCK Châu u, Ballas A.L (2005) áp dụng mô hình Ohlson vào các TTCK tại các nước thành viên ở châu u như: Pháp, Đức, Hà Lan, Anh.
Mặc dù, đồng tiền sử dụng và chế độ kế toán của các nước là khác nhau, tuy nhiên, kết quả cho thấy mô hình Ohlson có mức độ phù hợp trong định giá cổ phiếu là 74%. Ở thị trường Châu Á, thì tại Đài Loan, Po-ChinWu và Chen-Jen Wang (2008) đã phát triển mô hình Ohlson, đưa thêm các biến giải thích thuộc chỉ số kinh tế vĩ mô: tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái. Nghiên cứu cho kết quả R2 hiệu chỉnh cao hơn mô hình gốc. Tại Gióoc-đa-ni, Firas Naim Dahmash và Majed Qabajeh (2012) đã tiến hành kiểm tra mô hình Ohlson với các cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Amman.
Kết quả cho biết mô hình Ohlson có khả năng giải thích cao đối với các cổ phiếu thuộc nhóm ngành thương mại với R2 là 97.6% và nhóm ngành công nghiệp là 80%. Theo Chaney và Philipich (2002), chất lượng kiểm toán gắn liền với danh tiếng của công ty kiểm toán. Các công ty kiểm toán bị giảm danh tiếng có ảnh hưởng tiêu cực đến các khách hàng dẫn đến các nhà đầu tư thường phản ứng tiêu cực đối với các công ty niêm yết được kiểm toán. Trong những trường hợp như vậy, 6 giá cổ phiếu cho thấy sự biến động rất lớn.
Khi đó, hầu hết các công ty đều muốn chuyển sang sử dụng dịch vụ của các công ty kiểm toán có quy mô lớn và uy tín hơn. Các doanh nghiệp lớn niêm yết có xu hướng chuyển đổi công ty kiểm toán nhanh hơn so với các công ty khác, vì họ không muốn chịu tổn thất về giá trị thị trường khi giá cổ phiếu của họ giảm. Mặc dù chi phí tìm kiếm công ty kiểm toán mới phát sinh khá cao nhưng sẽ làm giảm sự không chắc chắn liên quan đến giá cổ phiếu trong trường hợp phản ứng của nhà đầu tư đối với chất lượng kiểm toán. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng được công bố năm 2009 với đề tài “Mối liên hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu: vận dụng linh hoạt lý thuyết hiện đại vào trường hợp Việt Nam” sử dụng kết hợp mô hình Ohlson (1995) và lý thuyết hiện đại của Aboody, Hughes & Liu (2002) để xây dựng lý thuyết và mô hình cho các nghiên cứu về mối liên hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu tại Việt Nam.
Tác giả thu thập dữ liệu mẫu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn 2003–2007, trong đó thông tin kế toán sử dụng cho nghiên cứu là EPS và BVPS, giá cổ phiếu sẽ được lấy thời điểm kết thúc niên độ và sau khi kết thúc niên độ 3, 6, 9, 12 tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin kế toán trên BCTC có mối quan hệ đến giá cổ phiếu ít nhất là về mặt thống kê, mức độ giải thích là 40%. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy thông tin BCTC giải thích tốt nhất giá cổ phiếu tại thời điểm trong 3 tháng tương lai và sau thời điểm điểm kết thúc niên độ 9, 12 tháng thì hệ số của BVPS không có ý nghĩa thống kê. Tiếp theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng (2009), Trần Ngọc Lina (2013) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm giai đoạn tiếp theo là từ 2007 – 2012 các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị sổ sách và lợi nhuận thể hiện qua biến BVPS và EPS có tác động đến giá cổ phiếu, mức độ giải thích là 45%, tốt hơn so với giai đoạn 2003 - 2007. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và thông tin trên BCTC và đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện các nhân tố ảnh hưởng này. 7 Nguyễn Thị Thục Đoan (2011) đã thực hiện phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố đến giá chứng khoán và những nhân tố được đưa vào kiểm định với giá chứng khoán là thông tin kế toán và các chỉ số tài chính, trong đó thông tin kế toán là giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS), các chỉ số tài chính là tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số đòn bẩy tài chính. Giá cổ phiếu sử dụng trong nghiên cứu là giá cổ phiếu tại thời điểm kết thúc niên độ và sau đó 60 ngày.
Dữ liệu thu thập là số liệu năm 2009 của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, BVPS, EPS và ROE biến động cùng chiều với giá cổ phiếu tại thời điểm cuối năm và 60 ngày sau đó với R2 của 430 công ty là 43%, R2 của doanh nghiệp nhỏ là 45,10% và của doanh nghiệp lớn là 45,87%, trong đó hai biến EPS và ROE có ý nghĩa thống kê với giá cổ phiếu trong mọi trương hợp nghiên cứu, BVPS chỉ có ý nghĩa thống kê khi phân loại dữ liệu theo quy mô doanh nghiệp, đối với biến hệ số đòn bẩy tài chính không có mối quan hệ ý nghĩa với giá cổ phiếu. Đỗ Hạnh Nguyên (2014) dựa trên mô hình Ohlson có điều chỉnh để tiến hành phân tích tác động của thông tin kế toán trên BCTC đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, chuỗi thời gian nghiên cứu là từ năm 2008 đến năm 2013. Các biến độc lập bao gồm lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS), giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS), lợi nhuận chưa phân phối trên mỗi cổ phiếu (RPS) và đòn bẩy tài chính (FLEV).
Biến phụ thuộc là giá cổ phiếu tại thời điểm kết thúc niên độ và sau khi kết thúc nhiên độ 3,6,9,12 tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin kế toán trên BCTC ảnh hưởng xấp xỉ 34% đến giá cổ phiếu. Nguyễn Thị Khánh Phương (2015) đã tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa thông tin kế toán đến giá cổ phiếu thông qua đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán với giá cổ phiếu các công ty niêm yết trên thi trường chứng khoán Việt Nam”. Mẫu nghiên cứu gồm 326 công ty niêm yết tại Sở Giao dich chứng khoán TP.
Thời gian nghiên cứu từ năm 2008-2014 với 06 biến độc lập là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS), giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS), tỷ suất lợi nhuận trên vốn 8 chủ sở hữu (ROE), cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DPS), đòn bẩy tài chính (FL) và dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh (CFO). Kết quả nghiên cứu cho thấy toàn TTCK Việt Nam thì các biến BVS, EPS và ROE có mối quan hệ với giá cổ phiếu với R2 là 36,5%. Các chỉ tiêu DPS, FL và CFO không có mối quan hệ với giá cổ phiếu. Huỳnh Thiên Trang (2016) cũng dựa trên mô hình Ohlson có điều chỉnh để nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của thông tin trên BCTC đến giá cổ phiếu.
Dữ liệu thu thập gồm 125 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.