Chương 1 trình bày một cách tổng quan về nội dung thực hiện của đề tài nghiên cứu. Tác giả cũng nêu lên lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu được xây dựng để thỏa mãn mục tiêu nghiên cứu. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu cũng được xây dựng dựa trên đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu.
Ở Chương 2, tác giả trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan, được áp dụng trong nghiên cứu. Ngoài ra, Chương 2 sẽ phân tích kết quả của các tiền nghiên cứu, làm nền tảng xác định hướng nghiên cứu và xây dựng mô hình cùng giả thiết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3 đề xuất các biến độc lập, tổng hợp cách đo lường các biến độc lập.
Đồng thời đề xuất mô hình hồi quy và lập các giả thuyết. Thực hiện mô tả dữ liệu nghiên cứu và xác định các bước thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 4 đưa ra các mô tả dữ liệu, kiểm định lựa chọn các mô hình hồi quy.
Tiếp theo, khắc phục khuyết tật mô hình và đưa ra kết quả nghiên cứu cuối cùng. Tiến hành thảo luận so sánh với các nghiên cứu trước, phân tích số liệu dựa trên tình hình thực tế. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương 5 tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đưa ra kết luận cuối cùng nhằm đề xuất các khuyến nghị cho nhà đầu tư.
Đồng thời, nhận định các điểm hạn chế khi thực hiện nghiên cứu và cung cấp các hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Thị trường chứng khoán 2. Khái niệm Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính, cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán là một thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, quyền chọn, quyền mua cổ phiếu, chứng quyền (Bùi Kim Yến và ctg 2016) 2. Bản chất của thị trường chứng khoán Xét về mặt hình thức, TTCK là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, nếu xét về mặt bản chất, TTCK có những đặc trưng cụ thể. Thứ nhất là hình thức trực tiếp, người cần vốn và người thừa vốn sẽ trực tiếp tham gia vào thị trường và không có các trung gian tài chính.
Thứ hai, TTCK là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, quan hệ cung cầu tác động trực tiếp đến giá cả của chứng khoán và không có ràng buộc, các chủ thể trên TTCK có thể tự do tham gia cũng như rút khỏi thị trường. Thứ ba, TTCK là một thị trường liên tục, chứng khoán là tài sản có tính thanh khoản cao và được giao dịch liên tục. Sau khi phát hành trên thị trường sơ cấp, tại thị trường thứ cấp, chứng khoán chuyển dịch sang nhiều nhà đầu tư khác nhau. Phân loại các thị trường chứng khoán Có ba căn cứ nhằm phân loại TTCK bao gồm căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn, căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường và căn cứ vào loại hàng hóa trên thị trường.
7 Căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn, TTCK được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp giao dịch chứng khoán mới được phát hành. Khi này, dòng tiền sẽ chuyển dịch sang nhà phát hành và chuyển thành hình thái vốn dài hạn. Thị trường thứ cấp là chuyển nhượng chứng khoán giữa các nhà đầu tư, do đó dòng tiền sẽ luân chuyển liên tục từ nhà đầu từ này sang nhà đầu tư khác, đảm bảo tính thanh khoản trên thị trường thứ cấp.
Căn cứ vào phương thức hoạt động, TTCK được chia thành thị trường tập trung và thị trường phi tập trung Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) là nơi các giao dịch mua bán các loại chứng khoán đủ tiêu chuẩn niêm yết, diễn ra một cách tập trung, các lệnh được khớp liên tục sau khi chuyển giao tới sàn giao dịch. Thị trường phi tập trung (Thị trường OTC – Over the Counter Market) là thị trường giao dịch những chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết tại các điểm giao dịch tập trung như Sở giao dịch chứng khoán. Địa điểm giao dịch của thị trường OTC không cụ thể mà thông qua các nhà môi giới chứng khoán hay các công ty chứng khoán. Căn cứ vào loại hàng hóa trên thị trường, TTCK được chia thành thị trường cổ phiếu, trái phiếu và công cụ chứng khoán phái sinh.
Thị trường cổ phiếu giao dịch các loại cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Thị trường trái phiếu giao dịch các trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu đô thị hay trái phiếu Chính phủ. Thị trường công cụ chứng khoán phái sinh giao dịch mua bán các chứng từ tài chính như quyền chọn cổ phiếu, chứng quyền hay các hợp đồng quyền chọn,…(Bùi Kim Yến và ctg 2016). Cổ phiếu Theo khoản 2 điều 4 luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 giải thích: “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành”.
8 Theo khoản 1 điều 121 luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 sửa đổi bổ sung năm 2022 giải thích: “Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó”. Như vậy, cổ phiếu được phát hành bởi công ty cổ phần dưới hình thức bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu lịch sử. Người nắm giữ cổ phiếu được gọi là cổ đông, nắm giữ một phần vốn cổ phần của doanh nghiệp và được hưởng những lợi ích hợp pháp. Cổ phiếu khi được doanh nghiệp phát hành thì giao dịch thông qua thị trường sơ cấp.
Sau đó, cổ phiếu sẽ được chuyển dịch trên thị trường thứ cấp. Cổ phiếu được phân thành 2 loại bao gồm cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi. Một cổ phiếu có nhiều loại giá trị khác nhau, bao gồm mệnh giá, giá trị sổ sách, giá trị nội tại và thị giá. Theo khoản 2 điều 13 Mục 1 Chương II luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, mệnh giá của một cổ phiếu khi phát hành được quy định chung là 10 nghìn đồng và đây cũng là giá trị danh nghĩa của một cổ phiếu nên không ảnh hưởng đến thị giá.
Giá trị sổ sách của một cổ phiếu là giá trị được xác định dựa trên tổng số vốn cổ phần của doanh nghiệp so với số cổ phiếu đang lưu hành. Giá trị nội tại của một cổ phiếu được xác định dựa trên giá trị doanh nghiệp kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại, phản ánh sức hấp dẫn của cổ phiếu. Cuối cùng, thị giá hay giá trị thị trường của một cổ phiếu là giá trị có tính thời điểm, là giá trị được giao dịch trên thị trường thứ cấp. Một cổ phiếu có thị giá biến động liên tục và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quan hệ cung cấu trên thị trường.
Ngoài ra, thị giá còn chịu tác động gián tiếp từ các yếu tố đến từ doanh nghiệp như tình hình kinh doanh, tình hình hoạt động, các tin tức có liên quan đến doanh nghiệp và các tác động đến từ lạm phát, sự phát triển kinh tế hay các chính sách điều hành của chính phủ. Lý thuyết nền tảng về sự tác động lên giá cổ phiếu 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả Quy luật “Ramdom Walk” được Maurice Kendall công bố vào năm 1953 cho rằng giá cổ phiếu thay đổi một cách ngẫu phiên và không thể dự đoán. Quy luật này sau đó trở thành một phần trong “Lý thuyết Thị trường hiệu quả - Efficient Market Hypothesis (EMH)” được Eugene F.
Fama phát triển thêm vào năm 1970. Lý thuyết thị trường hiệu quả trở thành một trong những lý thuyết cơ sở, làm nền tảng cho các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động lên giá cổ phiếu ngày nay. Theo đó, Nếu các thông tin có thể dự đoán trước được, các nhà đầu tư sẽ dựa vào dự đoán của họ về tác động của thông tin đó để đưa ra các quyết định đầu tư và giá cổ phiếu sẽ được điều chỉnh. Nếu mức giá này đã phản ánh đầy đủ các thông tin có sẵn và các thông tin đã được dự đoán thì sau khi thông tin mới được công bố, giá cổ phiếu sẽ không có sự điều chỉnh ngẫu nhiên mà sẽ phản ánh lại thông tin đã được dự đoán trước đó.
Điều này có nghĩa là thị trường đã phản ánh thông tin mới vào giá cổ phiếu một cách chính xác và kịp thời. Nếu giá cổ phiếu không phản ánh đầy đủ các thông tin có sẵn và có những nhóm nhà đầu tư có các thông tin không được công khai, thì thị trường sẽ không được coi là hiệu quả. Trong trường hợp này, một vài nhà đầu tư có thể có lợi thế so với phần còn lại, gây ra sự chênh lệch và không công bằng trên TTCK. Do đó, khái niệm thị trường hiệu quả được hình thành khi giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ và tức thời các thông tin hiện có trên thị trường.
Nghiên cứu thực nghiệm về thị trường hiệu quả của Eugene F. Fama vào năm 1970 đã trình bày về ba hình thái của thị trường hiệu quả: Thứ nhất, thị trường hiệu quả dạng yếu. Ở hình thái này giá cả của cổ phiếu phản ánh thông tin đã được công bố trong quá khứ. Do đó, sự biến động giá cả hoàn toàn là ngẫu nhiên và không thể dự đoán dựa vào các biểu đồ kỹ thuật và các giao dịch trong quá khứ.
10 Thứ hai, thị trường hiệu quả dạng trung bình. Ở hình thái này giá cả đã được điều chỉnh trước các thông tin trong quá khứ và các thông tin được được công bố ở hiện tại đều sẵn sàng được phản ánh nhanh chóng vào giá của cổ phiếu. Bất kì nguồn thông tin mới nào cũng được các nhà đầu tư đưa vào nhằm xác định giá cả. Do đó, giá cả sẽ nhanh chóng được điều chỉnh cân bằng.
Thứ ba, thị trường hiệu quả dạng mạnh. Một thị trường đạt hiệu quả dạng mạnh khi giá cả chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin hiện có, bao gồm cả thông tin công khai và thông tin nội bộ.