CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên đề cập đến lý do và đối tượng của việc chọn đề tài, câu hỏi và đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của khoa học thực tiễn. Ngoài ra, những đóng góp về khoa học và thực tiễn đã được chỉ ra nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng cấu trúc vốn hiệu quả từ đó là làm nền tảng cho chương 2. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng 2.1 Khái niệm Theo từ điển tiếng Việt [13], “nhân tố” là là yếu tố cần thiết, gây ra, tạo ra cái gì đó. “Ảnh hưởng” là tác động có thể để lại kết quả ở sự vật/người nào đó [12].
Như vậy nhân tố ảnh hưởng là các yếu tố, biến số của sự vật, hiện tượng hoặc điều kiện mà có thể có tác động đến một hiện tượng, quá trình, hoặc kết quả. Trong ngữ cảnh cấu trúc vốn của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng là các yếu tố có tác động đến cấu trúc vốn mà doanh nghiệp cần xem xét và đánh giá để quyết định về cấu trúc vốn của mình 2.2 Ý nghĩa của việc xác định các nhân tố ảnh hưởng Việc xác định các yếu tố có tác động đến một tình huống cụ thể mang ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực và tình huống khác nhau, từ kinh doanh và khoa học đến chính trị và nhiều lĩnh vực khác. Một số điểm quan trọng về việc xác định những yếu tố này: + Dự báo và ứng phó với biến đổi: Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng giúp dự đoán sự thay đổi và thích nghi hiệu quả với các tình huống không mong muốn. + Đánh giá rủi ro: Hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng giúp đánh giá rủi ro trong quá trình ra quyết định + Lập kế hoạch và chiến lược: Hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch và chiến lược để đạt được mục tiêu cụ thể.
+ Nghiên cứu và phát triển: Để nghiên cứu và phát triển kiến thức cần xác định được nhân tố ảnh hưởng hưởng.3 Phân loại nhân tố ảnh hưởng Có nhiều cách phân loại nhân tố ảnh hưởng, một trong số đó là dựa vào sự tác động lên hệ thống của sự vật quan sát, ta có yếu tố ảnh hưởng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. 7 + Các yếu tố môi trường xung quanh sự vật được gọi là các nhân tố bên ngoài. Ví dụ: kinh tế và xã hội (lạm phát, tăng trưởng kinh tế,.), thị trường và pháp luật (chính sách quản lý, quy định, đặc điểm của ngành bất động sản,. + Các nhân tố bên trong là những thành phần bên trong cấu tạo sự vật.
Ví dụ những yếu tố nội tại của doanh nghiệp bao gồm quy mô doanh nghiệp (kích thước doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến khả năng đầu tư, tiếp cận nguồn vốn, và quản lý rủi ro), tài sản cố định (các dự án BĐS và cơ sở hạ tầng là trọng điểm trong việc định hình khả năng sinh lời), hiệu suất sinh lời trên tài sản, thuế doanh nghiệp, tính thanh khoản (khả năng thanh toán của doanh nghiệp và mức đổ khả dụng của các BĐS) Các nhân tố ảnh hưởng trong bài nghiên cứu được đề cập là nhân tố bên ngoài và bên trong sự vật.1 Khái niệm Theo từ điển Tiếng Việt, vốn là số tiền hoặc tài sản mà một cá nhân, tổ chức hoặc công ty sở hữu hoặc có sẵn để đầu tư vào hoạt động kinh doanh hoặc tài sản khác [11]. Khả năng huy động nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện bằng tổng nguồn vốn. Sự tăng hoặc giảm của tổng nguồn vốn so với kỳ gốc trong kỳ phân tích cho thấy sự biến đổi trong quy mô nguồn vốn huy động trong thời gian đó. Theo Phân tích tài chính doanh nghiệp nâng cao [1] nguồn vốn của doanh nghiệp thể hiện nguồn gốc và xuất xứ của tài sản tổng cộng mà doanh nghiệp hiện đang quản lý và sử dụng trong hoạt động kinh doanh.2 Vai trò của vốn Vai trò của vốn được thể hiện như sau: + Cung cấp tài trợ cho hoạt động kinh doanh: Vốn cung cấp tài trợ quan trọng cho các hoạt động hàng ngày của công ty, chẳng hạn như thanh toán lương, mua thiết bị và chi trả các khoản phí và chi phí khác.
+ Hỗ trợ đầu tư và mở rộng: Với sự hỗ trợ của vốn, các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các dự án mới, mở rộng quy mô sản xuất và phát triển các mặt hàng và dịch vụ 8 mới. Vốn được sử dụng để đầu tư vào công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển quy trình sản xuất hiệu quả hơn để tăng hiệu suất và lợi nhuận. + Đảm bào ổn định và quản lý rủi ro tài chính: Các công ty nhận được vốn để đảm bảo sự ổn định tài chính và giúp họ thích ứng với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Ngoài ra, dự trữ tài chính được tạo ra để đối phó với sự thiếu hụt tài chính hoặc chi phí bất ngờ giúp giảm rủi ro tài chính của công ty.
+ Hỗ trợ cho vay và tín dụng: Các doanh nghiệp có thể nhận được vốn để giải quyết nhu cầu tài chính của họ trong cả thời gian ngắn hạn và dài hạn. + Hỗ trợ sự phát triển và phát triển: Nguồn tài trợ từ vốn cho phép các doanh nghiệp phát triển, tạo ra việc làm và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Hiệu suất và lợi nhuận được tăng lên do đó. + Tạo giá trị cho cổ đông: Vốn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo giá trị cho cổ đông thông qua việc trả cổ tức, tăng giá trị cổ phiếu và tạo ra lợi nhuận.3 Phân loại vốn Vốn được phân loại dưới các góc độ khác nhau, dựa trên phân loại như sau: 2.1 Góc độ sở hữu vốn + Vốn chủ sở hữu: là phần tài sản mà cổ đông trong công ty sở hữu sau khi trừ đi tổng nợ của công ty.
Vốn chủ sở hữu có thể được tạo thành từ nhiều loại vốn khác nhau, chẳng hạn như vốn cổ phần hoặc vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các nguồn tài trợ khác. Vốn cổ phần là số tiền mà cổ đông đã đóng góp cho công ty bằng cách thành lập công ty hoặc mua cổ phần. Thông tin này được tìm thấy trong bản kê khai vốn của công ty. + Vốn vay: là vốn mà tổ chức hoặc doanh nghiệp mượn từ các nguồn tài chính bên ngoài như ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư.
Vốn vay thường được thỏa thuận theo điều khoản cho vay, bao gồm lãi suất và thời hạn trả nợ. Các hình thức vốn vay có thể bao gồm vay vốn ngắn hạn (như vay ngắn hạn từ ngân hàng) hoặc vay vốn dài hạn (như trái phiếu doanh nghiệp). Vốn vay được tiếp cận thông qua các loại như vốn vay nợ: hình thức vốn vay mà tổ chức hoặc doanh nghiệp phát hành các công cụ 9 tài chính như trái phiếu để huy động vốn từ công chúng hoặc các nhà đầu tư. Vốn vay nợ có tính chất tạm thời và phải được trả lại theo thỏa thuận về lãi suất và thời gian trả nợ.2 Góc độ lưu chuyển của vốn trong hoạt động kinh doanh + Vốn cố định: là giá trị tất cả tài sản cố định của doanh nghiệp.
Để được xem là vốn cố định của doanh nghiệp, các tài sản phải đáp ứng hai tiêu chí theo quy định Luật doanh nghiệp 2020 [18] ▪ Thời gian sử dụng tài sản phải liên tục trong ít nhất một năm. ▪ Giá trị của tài sản phải được quy định bởi chính phủ theo tình hình kinh tế. Các tài sản cố định có giá trị từ 30.000 vnđ trở lên được coi là vốn cố định theo quy định kế toán theo Nghị định 45/2013/BTC. Tài sản này có thời gian sử dụng kéo dài hoặc có thể được sử dụng lại trong nhiều chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Vốn lưu động ròng là giá trị chênh lệch giữa giá trị của tài sản cố định và tài sản đầu tư dài hạn của công ty và nguồn vốn thường xuyên của chủ sở hữu (hoặc nợ dài hạn của công ty trong hơn một năm). Trong đó ▪ Tài sản cố định là các tài sản có giá trị đóng góp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong một chu kỳ dài. Ví dụ: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển và các tài sản khác mà công ty sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ và mang lại lợi nhuận. ▪ Các tài sản đầu tư dài hạn không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hoặc sản xuất của công ty.
Ví dụ, trái phiếu có thời hạn từ một năm trở lên hoặc bất động sản mà công ty sở hữu và cho thuê. - Góc độ hình thái thể hiện đầu tư: + Vốn điều lệ của công ty: Vốn điều lệ là số tiền mà các thành viên hoặc cổ đông đóng góp cho công ty sau khi thành lập công ty trong một khoảng thời gian nhất định. Nhu cầu và quy mô hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình thành lập sẽ quyết 10 định việc đăng ký vốn với Sở Kế hoạch và Đầu tư. Ví dụ: tiền, quyền sử dụng đất và tiền tự do chuyển đổi + Vốn đầu tư là tổng số tài sản mà nhà đầu tư huy động hoặc tích lũy để đầu tư và phát triển với mục đích kiếm lợi nhuận.
Nó mô tả số tiền mà nhà đầu tư đã đóng góp để thực hiện một kế hoạch đã được lập trước đó. Như vậy trong luận văn cấu trúc vốn được đề cập những loại vốn là vốn vay, vốn cố định, vốn lưu động 2.3 Cấu trúc vốn 2.1 Khái niệm cấu trúc vốn Khi nói về tài chính doanh nghiệp, quyết định về cấu trúc vốn là một trong những quyết định quan trọng nhất. Cấu trúc vốn là cách một công ty tài trợ tài sản của mình bằng nợ và vốn chủ sở hữu (Héctor Cuevas-Vargas, 2021, [35]) Theo bài nghiên về dự đoán cấu cấu vốn dựa trên AI: Hiệu suất So sánh mô hình ANN SVM và LR của Gaytan và cộng sự (2022) [37], cấu trúc vốn được đo lường bằng tổng nợ trên vốn chủ sở hữu. Mặt khác theo nghiên cứu các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (Nguyễn Thị Như Quỳnh, 2020) [20] lại sử dụng cấu trúc vốn thể hiện giữa tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, nghiên cứu của Youself (2019) [51] cũng thể hiện tỷ suất này, với chủ đề Các yếu tố quyết định cấu trúc vốn: bằng chứng từ khu vực bất động sản ở GCC và Vương quốc Anh.