Đặt vấn đề Dưa lưới (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là loại rau ăn quả được ưa chuộng bởi hình dạng, màu sắc đa dạng đẹp mắt, hương vị ngọt thơm thanh mát đặc trưng. Dưa lưới cung cấp rất nhiều tiền vitamin A (beta-carotene), vitamin C, các loại dinh đưỡng như vitamin E và axit folic. Đó là những chất chống oxy hoá, chống bệnh ung thư và tăng cường hoạt động miễn dịch trong quá trình biến đưỡng dinh dưỡng Của con người. Thông thường dưa lưới được trồng trong nhà màng, dé đạt hiệu quả cao giống là yếu tổ quan trọng quy định năng suất và chất lượng cây trồng, việc lựa chọn được giống phù hợp với điều kiện canh tác trong nhà màng không những giúp tăng năng suất và chất lượng mà còn có khả năng tránh được các điều kiện bat lợi của môi trường.
Bên cạnh đó giá thé và phân bón cũng đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp dinh dưỡng và là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng, việc lựa chọn giá thể phù hợp là một trong những yếu tố mang lại sự thành công của cây trồng. Hiện nay các hình thức trồng dưa lưới ở những khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới đang được lan rộng trên toàn thế giới và cả Việt Nam.HCM thì dưa lưới được trồng trong nhà màng và dung dịch dinh dưỡng được cung cấp dựa vào các hệ thống tưới hiện đại trên nhiều nền giá thê khác nhau. Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng thành phần giá thê đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của ba giống cây dưa lưới (Cucumis melo L.) trồng trong nhà màng tại thành phố Hồ Chí Minh” đã được thực hiện. Mục tiêu Xác định được thành phan giá thé thích hợp nhất đối với từng loại giống dé cây dưa lưới sinh trưởng, đạt năng suất, chất lượng và mang lại hiệu quả kinh tẾ cao.
Yêu cầu đề tài Bồ trí thí nghiệm trồng bầu giá thê trong nhà lưới đảm bảo điều kiện sinh trưởng của cây trồng. Theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, yếu t6 cau thành năng suât và năng suât cây dưa lưới, chỉ tiêu sâu bệnh hại. Đánh giá hiệu quả kinh tế khi áp dụng ba thành phan giá thé trên ba giống dưa lưới tại Tp. Giới hạn đề tài Dé tài được thực hiện từ tháng 2/2023 - 5/2023 với ba giống dưa lưới F1 va ba thành phần phân hữu cơ.
Giá thé sử dụng gồm mun dia, tro trau, phân bò, phân rudi lính đen, phan trùn Ba giống dưa lưới dùng trong thí nghiệm là Taki, Reiwa và Takeda. ; Chuong 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây dưa lưới 1.1 Nguồn gốc và phân loại Nguồn gốc Theo Kerje T và Grum M (2000), dua lưới có nguồn gốc từ Châu Phi. Dưa dai được tìm thấy ngày nay có lẽ là kết quả của quá trình thuần hoá và trồng trọt vì việc lai giống dưa xảy ra thường xuyên trong tự nhiên. Dưa lưới được tìm thấy ở rất nhiều nơi: Châu phi: Angola, Benin, quần đảo Cameroon, Cộng hoa Trung Phi, Chad, Cote d'Ivoire, Ai Cap, Ethiopia, Gana, Guinea-Bissau, Kenya, Malawi, Maldives, Mali, Mozambique, Niger, Nigeria, Senegal, Seychelles, Somalia, Nam Phi, Sudan, Tanzania, Uganda, Zambia va Zimbabwe; Chau A: Myanmar, Trung Quốc, An Độ, Iran, Nhật Ban, Han Quốc, Nelpa, Pakistan, Ả Rap Saudi, Sri Lanka, Thái Lan, Yeman, Malaysia, Indonesia, New Guinea, Philippines va Australia; Thai Binh Duong: Quan dao Fiji, Guam, New Britain, Papua New Guinea, Samoa, quan dao solomon va Tonga.
(Kirkbride, 1993) Dưa lưới (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao và 6n định. Ở Việt Nam, dưa lưới được trồng nhiều tại một số khu vực có áp dụng công nghệ cao như thành phố Hồ Chí Minh, Củ Chi và Bình Dương. Phân loại Nam 1753 Linn’ đã đặt tên chi là Cucumis và mô tả 5 loài dưa được trồng. Sau đó, chúng được hợp nhất thành một loài duy nhất, Cucumis melo, bởi Naudin (1859), người đã phát triển một so đồ phân loại dựa trên bộ sưu tập giống gồm 2000 mẫu vật.
Ông ay đã thực hiện các phép lai có hệ thống dé xác định các chỉ định loài của minh (rev. Naudin đã chia dưa thành 10 loại và công việc của ông vẫn là cơ sở cho tất cả các nghiên cứu tiếp theo. Hammer và al. (1986) đã kế thừa một hệ thong phân loại 3 cấp độ tương tự Grebenscikov (1953) và cố gắng đơn giản hoá nó: ho đã nhóm lại dưới các phân loài agrestis hai giống, loài cây cocomon Đông A và cây agrestis mọc hoang.
Munger và Robinson (1991) đã đề xuất một phiên bản phân loại đơn giản hơn nữa của Naudin, chia Cucumis melo thành một giống hoang dã duy nhất, Cucumis melo var. agrestis, và 6 loại được trồng: cantalupensis, inodorus, conomon, dudaim, flexuosus và momordica.2 Dac diém thuc vat hoc Dưa lưới có những đặc điểm thực vật học được mô tả bao gồm (The National Gardening Assocciation, 2021) Rễ: của cây dưa lưới dạng rễ chùm, lan rộng trên mặt đất và có khả năng chịu hạn. Đa số rễ tập trung chủ yếu ở độ sâu 30 — 40 em, một số kéo dài đến hơn 1 m. Rễ bat định có thé phát sinh ở nốt lá.
Tuy nhiên, ở giai đoạn nuôi quả, thiếu nước là yếu tố bat lợi cho năng suất dưa. Thân: Thân của cây dưa lưới thuộc dạng thân thảo, bên ngoài có nhiều lông, rỗng bên trong và xốp. Thân dưa có nhiều đốt, ứng với mỗi đốt thân có một lá chính, một chỗi nách và một tua cuốn. Lông trên thân dưa lưới có chiều dai trung bình từ 1,5 — 2,5 mm ở cây trưởng thành.
Trong thời gian từ 10 — 15 ngày đầu cây dang thân leo và su đó chuyên sang dạng bò, tuy nhiên, trong canh tác người ta áp dụng biện pháp treo cây dé giúp cây dưa lưới đứng thắng, thuận tiện cho quá trình chăm sóc và thu hoạch. Lá: Lá của cây dưa lưới có hai dạng: lá mầm và lá thật. Dưa lưới là cây có hai lá mầm, lá thật của cây dưa lưới là dạng lá đơn, mọc xen ké theo từng đốt của thân chính. Lá thật có dạng hình xoan, chia thuỳ, trong giai đoạn sinh dưỡng lá có màu xanh nhạt, đến giai đoạn phát triển lá chuyển dần sang xanh đậm.
Màu xanh nhạt và vàng thu hút sự chú ý của bọ trĩ, cần chú ý phòng trừ kịp thời cho cây dưa lưới giai đoạn cây trước và sau thụ phan. Cuống lá dai 4 — 10 cm, phiến lá không có răng cưa, đường kính từ 3 — 20 cm tuỳ vào tuổi cây, lá hình chân vịt có 5 — 7 thuỳ, bề mặt phủ lông mịn. 4 Hoa: Cây dưa lưới là cây đơn tính đồng chu, có hoa mọc thành chùm ở nách lá. Hoa đực thường mọc ở nách lá trên thân chính, hoa cái mọc ở nách lá trên cảnh cấp 1, có số ít trường hợp ngoại lệ.
Hoa đực mọc thành từng chùm từ 4 — 5 hoa, cuống ngắn trên cuống có nhiều lông tơ, cánh hoa màu vàng tươi và trên mỗi bông hoa đực có từ 5 — 6 cánh. Hoa cái đơn tính hoặc lưỡng tính, bầu nhuy hình ellipsoid, đầu nhuy có 3 thuỳ, lá đài và cánh hoa dính nhau ở phần ống và dính vào bầu nhuy. Hoa cái mang bầu noãn phinh to lên khi tiếp nhận được hat phan từ hoa đực. Hoa cái thường nở vào buôi sáng và khép lại vào buổi chiều hoặc sáng hôm sau.
Cây bắt dau ra hoa sau khi gieo hạt được 25 — 30 ngày. Dưa lưới là cây giao phan, có thé thụ phan bằng côn trùng hoặc thủ công. Cành cấp 1: hay còn gọi là chèo, là cành mọc ra từ nách lá trên thân chính. Chèo của cây dưa lưới có đặc điểm điểm tương tự như thân chính.
Trên chèo, ở nách lá đầu tiên thường là vi trí cho quả. Trong canh tác, trên một dây dưa lưới chỉ dé lại 1 — 2 quả dưa lưới, tức là chỉ chừa lại 1 — 2 chèo, và trên mỗi chèo chi chừa lại 2 lá thật đầu tiên dé tập trung dinh dưỡng cho quả. Quả: Qua dưa lưới thường nặng từ 1,5 — 3 kg, có hình dang và mau sắc đa dang. Lúc còn nhỏ, quả dưa lưới có nhiều lông tơ mịn, màu xanh nhạt.
Dưa lưới có dạng hình cau, hình thuôn hay hình ovan với các vét gon lên thành lưới bao quanh bề mặt qua. Vỏ quả dưa lưới có màu trang, xanh xám, vàng xam, vàng nâu hoặc xanh. Thịt quả màu trắng, cam, vàng cam, vàng hoặc xanh. Bên trong quả dưa lưới có nhiêu hạt.
Vân lưới: Vỏ quả dưa có nhiều dang vân lưới khác nhau, có dạng vân lưới nỗi và vân lưới chìm, vân lưới to và vân lưới nhuyễn, vân lưới liền và đan đều mặt vỏ quả hoặc dạng vân lưới đứt khúc, vân lưới thưa và vân lưới dày. Có một số giống vân lưới bị nứt và một số không có vân lưới. Hạt: Nam bên trong quả, dẹp và có hình elip, một đầu nhọn và một đầu tròn, màu đỏ nâu, trắng hoặc kem. Hạt dưa lưới có chiều dài từ 0,5 — 1,2 em, hạt có hàm lượng dầu cao nên dễ mat sức nảy mam.
trong hat dưa chứa 12,5 — 39,1% dầu (Vũ Văn Liết và Nguyễn Văn Hoan, 2007).3 Yêu câu điêu kiện ngoại cảnh Nhiệt độ: Nhiệt độ tối ưu cho cây phát triển từ 18 — 28 °C, phát triển chậm khi nhiệt độ dưới 12 °C. Dưa có thể chịu được nhiệt độ lên tới 40 °C nhiều giờ mỗi ngày. Ánh sáng: Dưa lưới phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm khô và nhiều ánh sáng phù hợp với điều kiện tại thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu ánh sáng cho dưa từ 8 — 12 giờ trong ngày.
Quang kỳ ngắn kết hợp với cường độ ánh sáng mạnh sẽ thúc đây cây ra hoa cái nhiều, tăng tỷ lệ đậu trái, trái chín sớm, năng suất cao. Khi trời âm u, có ánh sáng, có mưa phùn thì cây dưa lưới phát triển kém, đặt biệt giảm khả năng đậu trái và phâm chât trái. Am độ: Độ ẩm không khí từ 75 — 80%, độ âm cao làm cây dua chậm phát trién, ảnh hưởng đến chất lượng quả dưa và gây ra một số bệnh trên lá và thân như thối lá, nứt thân chảy nhựa. Trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực nên giảm lượng nước để tăng lượng đường trong quả (Tạ Thu Cúc, 2005).
Đối với khả năng nảy mầm: Hạt dưa lưới có thể nảy mầm trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau.