Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây chôm chôm (Nephelium lappaceum L.) là cây ăn quả thân gỗ nhiệt đới có nguồn gốc từ Đông Nam Á, mang lại giá trị kinh tế đáng kể tại vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long nhờ năng suất cao, phẩm chất quả ngon và khả năng tiêu thụ rộng rãi. Tại tỉnh Bình Phước, bên cạnh các cây công nghiệp chủ lực, diện tích chôm chôm năm 2017 đạt khoảng 567 ha với điều kiện thổ nhưỡng đất đỏ bazan và khí hậu tương đối thuận lợi.

Trong tự nhiên, cây chôm chôm có đặc tính phân hóa mầm hoa dưới tác động của điều kiện khô hạn, chu kỳ nở hoa tự nhiên thường tập trung vào tháng 2 – 3 dương lịch và cho thu hoạch rộ từ tháng 6 đến tháng 8. Khi vào vụ thu hoạch rộ chính vụ, sản lượng trái cây tập trung cục bộ khiến giá bán giảm sâu, làm suy giảm hiệu quả kinh tế của nhà vườn. Nhằm gia tăng lợi nhuận và giảm bớt áp lực cung vượt cầu, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm điều khiển cây ra hoa sớm hơn vụ mùa thuận trở thành một yêu cầu thực tiễn cấp bách.

Phân bón lá Mono Potassium Phosphate (MKP, công thức hóa học $\text{KH}_2\text{PO}_4$) chứa hai thành phần dinh dưỡng khoáng đa lượng là lân (52% $\text{P}_2\text{O}_5$) và kali (34% $\text{K}_2\text{O}$), hoàn toàn không chứa đạm ($\text{N}$). Sự kết hợp này có tác dụng ức chế sinh trưởng sinh dưỡng, thúc đẩy cơi đọt nhanh thuần thục, nâng cao tỷ lệ C/N trong chồi và xúc tiến quá trình hình thành mầm hoa. Đề tài "Ảnh hưởng của lượng phân Mono Potassium Phosphate đến sự ra hoa cây chôm chôm Rongrien (Nephelium lappaceum L.) tại huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước" được triển khai nhằm giải quyết mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Xác định được lượng phân MKP phù hợp để xử lý ra hoa và đậu quả sớm hơn vụ thuận cho giống chôm chôm Rongrien tại địa bàn huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
  • Nhiệm vụ (yêu cầu) nghiên cứu:
    1. Bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng đối với giống chôm chôm Rongrien tại huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
    2. Theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển về hoa, quả, thời gian ra hoa và đậu quả tương ứng với từng lượng phân MKP.
    3. Thu thập, phân tích, xử lý thống kê và đánh giá khách quan các chỉ tiêu theo dõi thu được từ thí nghiệm.
  • Đối tượng nghiên cứu: Cây chôm chôm giống Rongrien 5 năm tuổi, được ghép trên gốc ghép chôm chôm Java, có độ đồng đều cao về chiều cao cây (5,16 – 5,37 m), đường kính thân (20,66 – 24,33 cm) và đường kính tán (6,23 – 6,43 m).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi không gian: Vườn chôm chôm tại huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
    • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024.
    • Giới hạn nghiên cứu: Quy trình chăm sóc và thu hoạch áp dụng tập quán tại địa phương ngoại trừ các yếu tố xử lý thực nghiệm; do giới hạn về thời gian, đề tài không đánh giá các chỉ tiêu về phẩm chất cơ lý hóa của thịt quả và hiệu quả kinh tế tài chính chi tiết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các cơ sở sinh lý thực vật và kỹ thuật nông học về xử lý ra hoa cây ăn quả:

  • Cơ chế ra hoa của chôm chôm: Chôm chôm không đòi hỏi nhiệt độ thấp để cảm ứng ra hoa mà chịu ảnh hưởng cốt lõi bởi điều kiện khô hạn. Khô hạn kích hoạt các phản ứng sinh hóa, giảm sinh trưởng sinh dưỡng và gia tăng tỷ lệ carbohydrate/nitơ (tỷ lệ C/N). Việc xử lý siết nước, đậy bạt nylon phủ líp kết hợp phun phân bón lá giàu lân và kali giúp đẩy nhanh quá trình già hóa lá non của cơi đọt.
  • Vai trò sinh lý của Lân (P) và Kali (K): Lân tham gia cấu tạo nucleic acid, màng phospholipid, xúc tiến hình thành nhân tế bào và tượng mầm hoa, rễ. Kali điều hòa áp suất thẩm thấu, đóng mở khí khổng, tăng cường chuyển hóa carbohydrate và làm tăng tỷ lệ C/N trong mô thực vật, giúp mầm hoa phân hóa tập trung.
  • Đặc tính phân bón MKP: Hợp chất $\text{KH}_2\text{PO}_4$ tinh thể màu trắng tan hoàn toàn trong nước, tỷ lệ 0-52-34 giúp đưa hàm lượng lân và kali hữu hiệu vào mô lá nhanh chóng mà không gây bốc đọt non do thừa đạm.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design – RCBD) gồm 6 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Mỗi ô cơ sở gồm 3 cây, tổng quy mô thực nghiệm là 54 cây (diện tích hàng cách hàng 9 m, cây cách cây 9 m).
  • Các nghiệm thức thực nghiệm:
    • Nghiệm thức 1 (NT1 - Đối chứng): Phun 5 lít nước lã/cây.
    • Nghiệm thức 2 (NT2): Phun MKP nồng độ 5‰ (pha 25 g MKP vào 5 lít nước/cây).
    • Nghiệm thức 3 (NT3): Phun MKP nồng độ 10‰ (pha 50 g MKP vào 5 lít nước/cây).
    • Nghiệm thức 4 (NT4): Phun MKP nồng độ 15‰ (pha 75 g MKP vào 5 lít nước/cây).
    • Nghiệm thức 5 (NT5): Phun MKP nồng độ 20‰ (pha 100 g MKP vào 5 lít nước/cây).
    • Nghiệm thức 6 (NT6): Phun MKP nồng độ 25‰ (pha 125 g MKP vào 5 lít nước/cây).
  • Quy trình tác động: Phun thực nghiệm bằng máy bơm áp lực đều tán lá vào buổi chiều mát khi cơi đọt thứ ba của cây đã thành thục; thực hiện 2 lần phun cách nhau 15 ngày. Phân bón sử dụng là Haifa MKP.
  • Phương pháp theo dõi chỉ tiêu:
    • Trên mỗi cây chọn cố định 4 cành cấp 1 theo 4 hướng la bàn, bắt đầu đo đạc từ 14 ngày sau phun lần 2 (NSP), định kỳ 7 ngày/lần.
    • Nhóm chỉ tiêu hoa: Ngày xuất hiện hoa (tính từ ngày phun lần 1), thời gian đậu quả (từ khi trổ hoa đến khi quả đạt kích thước 2 mm), số phát hoa/cành, chiều dài phát hoa (đo từ gốc đến đỉnh cụm hoa), đường kính phát hoa (đo tại vị trí phình lớn nhất), số hoa/phát hoa, tỷ lệ rụng hoa.
    • Nhóm chỉ tiêu quả: Số chùm quả/cành, số quả/chùm (ghi nhận tại 98 NSP), đường kính quả (đo bằng thước kẹp cơ học tại 98 NSP).
    • Nhóm chỉ tiêu sâu bệnh: Tỷ lệ sâu đục nụ/hoa do sâu đo (Thalasodes sp.), tỷ lệ bệnh trên quả.
  • Xử lý số liệu: Nhập và sơ chế số liệu thô bằng Microsoft Office Excel; thực hiện phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng trung bình LSD tại mức xác suất tin cậy $\alpha = 0,05$ bằng ngôn ngữ R phiên bản 4.3 trong môi trường RStudio.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm

  • Dữ liệu khí hậu được trích xuất từ Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ giai đoạn tháng 11/2023 – 03/2024.
  • Dữ liệu tính chất lý hóa đất khu thí nghiệm được phân tích tại Bộ môn Khoa học Đất – Phân bón, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh theo các Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN 4406:2010, TCVN 5979:2021, TCVN 6650:2000, TCVN 8568:2010, TCVN 8941:2011, TCVN 8940:2011, TCVN 4406:1987).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở thực vật học, sinh thái học của loài Nephelium lappaceum L. và các công trình nghiên cứu tiền nhiệm:

  • Đặc tính thực vật và giá trị dinh dưỡng: Cây chôm chôm thân gỗ, tán rộng; hoa mọc thành chùm 15 – 30 cm tại đầu cành, số lượng hoa có thể đạt 2.000 – 3.000 hoa nhưng tỷ lệ đậu quả tự nhiên thấp (20 – 30 quả/chùm). Phân tích thành phần trong 100 g thịt quả cho thấy hàm lượng nước chiếm 82,1 g, đường sucrose 9,9 g, glucose 2,8 g, vitamin C đạt 70,0 mg cùng các khoáng chất như kali (140,0 mg), canxi (15,0 mg).
  • Yêu cầu sinh thái: Cây thích ứng ở biên độ nhiệt 22 – 30°C (nhiệt độ dưới 22°C cản trở ra hoa), lượng mưa cần 2.000 – 3.000 mm/năm. Đất trồng cần thoát nước tốt, pH thích hợp từ 5,0 – 6,5.
  • Đặc điểm giống chôm chôm Rongrien: Giống nhập nội từ Malaysia qua Thái Lan vào Việt Nam từ năm 1996; khối lượng quả trung bình 40 – 50 g, vỏ đỏ râu xanh, cơm róc, vị ngọt thanh, có ưu thế thương phẩm vượt trội so với giống chôm chôm Java.
  • Nghiên cứu về chất điều hòa và phân bón xử lý ra hoa: Các công trình của Trần Văn Hâu và ctv (2006, 2007) xác định thời gian siết hạn 45 – 60 ngày hoặc ứng dụng Paclobutrazol (PBZ) nồng độ 500 – 750 ppm kích thích chôm chôm ra hoa nghịch vụ trước chính vụ 30 ngày. Các nghiên cứu quốc tế của Muchjajib (1988), Sangudom và ctv (2017) cho thấy vai trò của PBZ, ethephon trong kích thích tượng nụ. Bên cạnh đó, ứng dụng MKP nồng độ 0,5% trên nhãn Xuồng Cơm Vàng (Lê Thị Thanh Huyền, 2014) hay 0,3 – 1,5% trên cây ô liu (Mikhail & Goargiuos, 2014; Sarrwy và ctv, 2010) chứng minh hiệu quả kích thích phân hóa mầm hoa và tăng năng suất quả rõ rệt.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện địa bàn, vật liệu đầu vào và các bước chuẩn hóa thực nghiệm:

  • Điều kiện thời tiết khí hậu: Trong giai đoạn thực nghiệm (11/2023 – 03/2024), nhiệt độ trung bình dao động 27,20 – 29,30°C. Từ tháng 01/2024 đến tháng 03/2024, lượng mưa ghi nhận bằng 0 mm, số giờ nắng tháng 2 đạt 265,60 giờ, tạo điều kiện khô hạn tự nhiên lý tưởng để kết hợp với xử lý phân bón kích thích mầm hoa.
  • Tính chất lý hóa đất thực nghiệm: Sa cấu thuộc loại đất thịt pha sét (48% thịt, 44% sét, 8% cát). Đất có phản ứng chua mạnh với $\text{pH}_{(\text{H}2\text{O})} = 3,95$ và $\text{pH}{(\text{KCl})} = 3,58$; dung tích hấp thu trao đổi $\text{CEC} = 18,73 \text{ cmol}^+/\text{kg}$; hàm lượng chất hữu cơ ($\text{OM}$) đạt 2,10%; đạm tổng số đạt 0,15%; lân tổng số ($\text{P}_2\text{O}_5$) đạt 0,13%; hàm lượng canxi ($\text{Ca}^{2+} = 1,90 \text{ meq}/100\text{g}$) và magie ($\text{Mg}^{2+} = 1,10 \text{ meq}/100\text{g}$) ở mức thấp.
  • Chế độ phân bón nền: Áp dụng đồng nhất cho toàn khu thí nghiệm bao gồm: 30 kg phân chuồng hoai mục/cây (bón sau thu hoạch), 1,5 kg NPK 20-20-15/cây (sau tỉa cành 15 ngày), 1 kg NPK 10-10-20/cây và 1 kg lân nung chảy ($\text{P}_2\text{O}_5$ 16%)/cây.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này công bố chi tiết các bảng số liệu ANOVA, đối chiếu và đánh giá ảnh hưởng của 6 mức liều lượng MKP:

  • Thời gian xuất hiện hoa và đậu quả: MKP rút ngắn đáng kể thời gian xuất hiện hoa. Nghiệm thức NT6 (MKP 25‰) thúc đẩy hoa xuất hiện sớm nhất sau 23,92 ngày (sai khác không ý nghĩa thống kê so với NT4 – 15‰ đạt 25,08 ngày), nhanh hơn rõ rệt so với đối chứng NT1 (58,42 ngày) và NT5 – 20‰ (73,75 ngày). Về giai đoạn từ trổ hoa đến đậu quả non, NT5 có thời gian ngắn nhất (9,5 ngày), trong khi NT6 kéo dài đến 55,8 ngày và NT4 là 51,28 ngày. Tổng thời gian từ xử lý đến khi đậu quả dao động 72,22 – 85,25 ngày.
  • Chỉ tiêu cấu trúc cụm hoa:
    • Số phát hoa trên cành: Không có sai khác thống kê giữa các nghiệm thức qua các mốc thời gian ($F_{\text{tính}} = 0,33^{\text{ns}}$ tại 98 NSP), đạt từ 33,25 phát hoa (NT4) đến 34,67 phát hoa (NT1 và NT2).
    • Chiều dài phát hoa: Tăng trưởng liên tục theo thời gian, tại 98 NSP dao động từ 28,07 cm (NT6) đến 33,10 cm (NT2), sai khác không có ý nghĩa thống kê ($F_{\text{tính}} = 1,46^{\text{ns}}$).
    • Đường kính phát hoa: Tại 98 NSP dao động từ 17,20 cm (NT6) đến 24,80 cm (NT5), không có ý nghĩa thống kê ($F_{\text{tính}} = 2,04^{\text{ns}}$).
    • Số hoa trên phát hoa: Khác biệt có ý nghĩa thống kê rất cao ở mức $p < 0,01$ tại 77 NSP và 98 NSP. Tại 98 NSP, NT4 (15‰) đạt số hoa cao nhất với 835,38 hoa/phát hoa, tiếp theo là NT3 (711,53 hoa) và NT5 (698,95 hoa), vượt trội so với đối chứng NT1 chỉ đạt 247,20 hoa.
    • Tỷ lệ hoa rụng: Dao động từ 65,00% (NT5) đến 85,71% (NT3) tại 98 NSP, sự sai khác giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê ($F_{\text{tính}} = 2,32^{\text{ns}}$).
  • Chỉ tiêu về khả năng đậu quả và phát triển quả:
    • Số quả trên chùm: Ghi nhận sai khác rất có ý nghĩa tại các mốc 84 NSP và 91 NSP ($p < 0,01$). Ở 98 NSP, NT3 (10‰) đạt số quả cao nhất là 11,08 quả/chùm, tiếp đến là NT4 (10,00 quả/chùm), trong khi NT1 đạt thấp nhất với 8,00 quả/chùm.
    • Số chùm quả trên cành: Khác biệt có ý nghĩa thống kê rất cao ($p < 0,01$). Tại 98 NSP, NT4 (15‰) dẫn đầu với 24,50 chùm/cành, khác biệt không có ý nghĩa so với NT3 (21,42 chùm), nhưng vượt trội hoàn toàn so với đối chứng NT1 chỉ đạt 15,50 chùm/cành ($F_{\text{tính}} = 12,97^{**}$).
    • Đường kính quả: Tại 98 NSP, NT4 (15‰) đạt kích thước đường kính quả lớn nhất với 1,43 cm, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với NT2 (1,26 cm), NT3 (0,81 cm), NT6 (0,58 cm), NT5 (0,56 cm) và đối chứng NT1 chỉ đạt 0,41 cm ($F_{\text{tính}} = 128,33^{**}$).
  • Tình hình sâu bệnh hại: Giai đoạn quả non chưa ghi nhận thiệt hại đáng kể do nấm bệnh. Đối tượng dịch hại chính là sâu đo ăn hoa (Thalasodes sp.) cắn phá lá, đọt non và chùm hoa. Tỷ lệ phát hoa bị sâu hại dao động từ 57,72% (NT2) đến 81,14% (NT5), sai khác không có ý nghĩa thống kê ($F_{\text{tính}} = 1,86^{\text{ns}}$), chứng minh việc xử lý MKP không làm gia tăng áp lực sâu hại. Vườn thí nghiệm được can thiệp bảo vệ bằng thuốc trừ sâu Brightin 4.0 EC sau 7 ngày kể từ lần phun phân thứ nhất.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng tổng hợp

Bảng tổng hợp dưới đây phản ánh sự biến động của các chỉ tiêu sinh học và nông học cốt lõi giữa các mức nồng độ phân MKP tại thời điểm theo dõi kết thúc thí nghiệm (98 NSP):

Nghiệm thức xử lý Nồng độ / Liều lượng Ngày xuất hiện hoa (ngày) Số hoa / phát hoa (hoa) Số quả / chùm (quả) Số chùm quả / cành (chùm) Đường kính quả (cm) Tỷ lệ sâu hại (%)
NT1 (Đối chứng) 0‰ (Nước lã) $58,42^{\text{ab}}$ $247,20^{\text{d}}$ 8,00 $15,50^{\text{c}}$ $0,41^{\text{e}}$ 61,13
NT2 MKP 5‰ (25 g/5L) $54,33^{\text{ab}}$ $538,83^{\text{c}}$ 9,67 $19,58^{\text{b}}$ $1,26^{\text{b}}$ 57,72
NT3 MKP 10‰ (50 g/5L) $41,83^{\text{bc}}$ $711,53^{\text{ab}}$ 11,08 $21,42^{\text{ab}}$ $0,81^{\text{c}}$ 60,12
NT4 MKP 15‰ (75 g/5L) $25,08^{\text{c}}$ $835,38^{\text{a}}$ 10,00 $24,50^{\text{a}}$ $1,43^{\text{a}}$ 61,37
NT5 MKP 20‰ (100 g/5L) $73,75^{\text{a}}$ $698,95^{\text{abc}}$ 9,41 $20,33^{\text{b}}$ $0,56^{\text{d}}$ 81,14
NT6 MKP 25‰ (125 g/5L) $23,92^{\text{c}}$ $442,70^{\text{cd}}$ 9,50 $20,08^{\text{b}}$ $0,58^{\text{d}}$ 75,67
Ý nghĩa thống kê ($p$) - $0,01 < p < 0,05$ $p < 0,001$ $p > 0,05$ $0,001 < p < 0,01$ $p < 0,001$ $p > 0,05$

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Xác định ngưỡng nồng độ tối ưu: Thí nghiệm chứng minh việc phun MKP qua lá ở nồng độ 15‰ (75 g/5 lít nước/cây, phun 2 lần cách nhau 15 ngày khi cơi đọt 3 thành thục) mang lại hiệu quả sinh học tổng hợp cao nhất. Nghiệm thức này rút ngắn thời gian xuất hiện hoa xuống còn 25,08 ngày (sớm hơn đối chứng 33,34 ngày), đạt số hoa/phát hoa cao nhất (835,38 hoa), số chùm quả/cành cao nhất (24,50 chùm) và đường kính phát triển quả lớn nhất (1,43 cm).
  • Làm rõ các chỉ tiêu không phụ thuộc liều lượng MKP: Kết quả khẳng định lượng phân MKP không tác động làm biến đổi có ý nghĩa thống kê đối với số phát hoa trên cành, chiều dài phát hoa, đường kính phát hoa, tỷ lệ hoa rụng tự nhiên và tỷ lệ tấn công của sâu đo ăn hoa.
  • Đề xuất kỹ thuật cho sản xuất: Khuyến nghị nhà vườn trồng giống chôm chôm Rongrien tại Hớn Quản, Bình Phước áp dụng mức nồng độ MKP 15‰ kết hợp với các biện pháp quản lý khô hạn để điều tiết cây ra hoa và đậu quả sớm hơn mùa vụ chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Thời gian thực nghiệm gói gọn trong chu kỳ từ tháng 11/2023 đến tháng 4/2024 (khi quả non đạt kích thước bước đầu tại 98 NSP), chưa theo dõi được trọn vẹn đến giai đoạn quả chín sinh lý và thu hoạch thương phẩm.
    • Chưa phân tích các chỉ tiêu sinh hóa đánh giá phẩm chất quả khi chín (độ Brix, hàm lượng đường khử, hàm lượng acid tổng số, tỷ lệ thịt quả ăn được).
    • Chưa hạch toán chi phí phân bón, công lao động và doanh thu thực tế để đưa ra báo cáo hiệu quả kinh tế (tỷ suất lợi nhuận/chênh lệch giá nghịch vụ) giữa các công thức xử lý.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Kéo dài thời gian theo dõi đến khi thu hoạch quả chín để đánh giá năng suất cá thể, năng suất thực thu và chất lượng cảm quan, dinh dưỡng của quả chôm chôm Rongrien.
    • Thực hiện tính toán hạch toán kinh tế cụ thể nhằm so sánh doanh thu giữa việc xử lý ra hoa sớm bằng MKP với tập quán canh tác chính vụ truyền thống tại địa phương.
    • Nghiên cứu kết hợp MKP với các chế độ tưới nước phục hồi hoặc các chất điều hòa sinh trưởng khác nhằm nâng cao hơn nữa tỷ lệ đậu quả và giảm tỷ lệ rụng quả non.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Sinh viên và học viên ngành Nông học, Cây trồng, Làm vườn: Cung cấp mẫu hình chuẩn mực về quy trình bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) trên cây ăn quả lâu năm; phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nông học từ giai đoạn phân hóa mầm hoa đến đậu quả non; kỹ thuật phân tích phương sai ANOVA và trắc nghiệm phân hạng LSD bằng ngôn ngữ R.
  • Kỹ sư nông nghiệp và cán bộ khuyến nông: Làm tài liệu tham khảo cụ thể về liều lượng (nồng độ phần nghìn) và số lần xử lý phân bón lá $\text{KH}_2\text{PO}_4$ trên cây chôm chôm, giúp xây dựng các sổ tay hướng dẫn kỹ thuật canh tác rải vụ cây ăn quả cho vùng Đông Nam Bộ.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Bảng số liệu chi tiết về đặc tính hóa lý tầng đất thực nghiệm (Bảng 2.2), diễn biến khí hậu tiểu vùng (Bảng 2.1) cùng các số liệu so sánh trắc nghiệm trung bình về động thái nở hoa, đậu quả và phát triển kích thước quả non theo ngày sau phun (Bảng 3.1, Bảng 3.5, Bảng 3.8 và Bảng 3.9).

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao nồng độ MKP 25‰ làm hoa xuất hiện sớm nhất nhưng không được khuyến nghị là nghiệm thức tối ưu?
Nghiệm thức MKP 25‰ cho thời gian xuất hiện hoa sớm nhất (23,92 ngày sau xử lý), tuy nhiên thời gian từ khi ra hoa đến khi đậu quả lại kéo dài nhất (55,80 ngày). Đồng thời, số hoa trên phát hoa (442,70 hoa), số chùm quả trên cành (20,08 chùm) và đường kính quả non tại 98 NSP (0,58 cm) của nghiệm thức này đều thấp hơn đáng kể so với nghiệm thức xử lý MKP 15‰.

2. Thành phần dinh dưỡng và nồng độ pha thực tế của nghiệm thức MKP 15‰ được tiến hành như thế nào?
Loại phân bón sử dụng là Haifa MKP có công thức $\text{KH}_2\text{PO}_4$ với hàm lượng 52% $\text{P}_2\text{O}_5$ và 34% $\text{K}_2\text{O}$ (0% N). Nghiệm thức 15‰ tương ứng với liều lượng cân 75 g phân MKP hòa tan trong 5 lít nước sạch để phun đều trên toàn bộ tán của 1 cây chôm chôm.

3. Phân bón MKP có ảnh hưởng đến chiều dài và đường kính của phát hoa chôm chôm hay không?
Không. Phân tích phương sai (ANOVA) đối với các chỉ tiêu chiều dài phát hoa (đạt 28,07 – 33,10 cm tại 98 NSP, $F_{\text{tính}} = 1,46$) và đường kính phát hoa (đạt 17,20 – 24,80 cm tại 98 NSP, $F_{\text{tính}} = 2,04$) cho thấy sự sai khác giữa 6 nghiệm thức đều không có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất $\alpha = 0,05$.

4. Dịch hại chính xuất hiện trên hoa trong quá trình làm thí nghiệm là loài nào và được xử lý bằng biện pháp gì?
Dịch hại phổ biến là sâu đo ăn hoa (Thalasodes sp.), gây hại bằng cách cắn phá lá non, đọt non, nụ và cánh hoa. Tỷ lệ sâu hại giữa các công thức dao động từ 57,72% đến 81,14% (sai khác không có ý nghĩa thống kê) và được phòng trừ bằng cách phun thuốc bảo vệ thực vật hoạt chất sinh học Brightin 4.0 EC sau lần xử lý MKP thứ nhất 7 ngày.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hữu Trọng đã hoàn thành toàn diện việc đánh giá thực nghiệm ảnh hưởng của phân bón lá Mono Potassium Phosphate (MKP) đến quá trình ra hoa và đậu quả của giống chôm chôm Rongrien tại huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Kết quả phân tích thống kê khẳng định việc phun bổ sung MKP qua lá tác động tích cực đến thời gian phân hóa mầm hoa, số lượng hoa cụm, số chùm quả và tốc độ tăng trưởng đường kính quả non. Trong các mức nồng độ thử nghiệm, công thức phun MKP 15‰ (75 g/5 lít nước/cây, phun 2 lần cách nhau 15 ngày) đạt hiệu quả sinh học và tiềm năng năng suất tối ưu nhất, là cơ sở khoa học tin cậy để ứng dụng vào kỹ thuật điều khiển ra hoa sớm cho chôm chôm tại địa phương.