Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu đặc điểm hội đồng quản trị ảnh hưởng đến kết quả tài chính của các công ty gia đình. Chương 3: Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu đặc điểm hội đồng quản trị ảnh hưởng đến kết quả tài chính của các công ty gia đình Việt Nam. Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và một số khuyến nghị 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY GIA ĐÌNH 2. Tổng quan về công ty gia đình và hội đồng quản trị trong công ty 2.
Khái niệm công ty gia đình và các cách tiếp cận Trong các nghiên cứu về công ty gia đình, câu hỏi liệu một công ty có phải là công ty gia đình hay không là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu (Peter 2005). Có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các khái niệm công ty gia đình khác nhau và hiện nay vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng, thống nhất. Thông thường, các khái niệm công ty gia đình khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện khác nhau về khuôn khổ pháp lý, văn hóa và tôn giáo. Mỗi một cách tiếp cận khái niệm công ty gia đình với các tiêu chí khác nhau sẽ ảnh hưởng đến hành vi và kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Vì vậy, trong mỗi một nghiên cứu sẽ có nhưng cách tiếp cận khác nhau, nhưng cần phải đưa ra một khái niệm thống nhất về công ty gia đình làm đối tượng nghiên cứu để phân biệt giữa công ty gia đình với các loại hình doanh nghiệp khác. Đặc biệt, trong các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề tài chính, nếu không đưa ra một khái niệm công ty gia đình một cách cụ thể, thiếu những điều kiện cần thiết thì những biến số, những giả thuyết cũng sẽ không có ý nghĩa khoa học. Luận án đi sâu nghiên cứu khái niệm công ty gia đình từ các cách tiếp cận cả về lý thuyết và thực tiễn ở các quốc gia trên thế giới để từ đó tìm ra các tiêu chí nhận diện công ty gia đình phù hợp với nghiên cứu thực nghiệm áp dụng cho các công ty niêm yết sở hữu gia đình ở Việt Nam. Đó cũng chính là một trong những mục tiêu quan trọng tác giả xem đó là điểm mới hay đóng góp mới của luận án.
Khái niệm công ty gia đình ở các quốc gia châu Âu Ở châu Âu, khái niệm công ty gia đình được phân tích và thảo luận ở 33 quốc gia và không đưa ra được một khái niệm thống nhất. Ở nhiều nước như Bulgari, Đan Mạch, Bỉ… có hơn hơn một khái niệm tồn tại trong các nghiên cứu và thậm chí có đến 5 khái niệm học thuật khác nhau (H Ref. Các nghiên cứu phần lớn dựa vào các chỉ báo để phân biệt giữa công ty gia đình và công ty phi gia đình như quyền sở hữu hoặc quản lý của gia đình. Một khía cạnh rất quan trọng để phân biệt giữa công ty gia đình và công ty phi gia đình khi đề cập đến yếu tố "familiness" - đặc tính gia đình thể hiện qua các nguồn 12 lực và khả năng cũng như kết quả sự tham gia của gia đình vào trong hoạt động kinh doanh; các đặc trưng về văn hóa gia đình, các mối quan hệ xã hội giữa gia đình và hoạt động kinh doanh (Cabrera và cộng sự, 2001).
Những yếu tố có liên quan trong khái niệm như sự tham gia của gia đình trong kinh doanh được gọi là "yếu tố quá trình" - yếu tố “mềm”. Bên cạnh đó, khái niệm công ty gia đình cũng được đề cập đến thông qua thang đo F-PEC - thang đo ảnh hưởng của gia đình bởi yếu tố quyền lực (P - Power), kinh nghiệm (E - Experience) và văn hóa (C - Culture). "Quyền lực" được hiểu là mức độ sở hữu và kiểm soát mang tính chiến lược. "Kinh nghiệm" là những hoạt động tích lũy từ truyền thống kinh doanh của gia đình với sự tham gia các thế hệ sở hữu và quản lý.
"Văn hóa" là sự cam kết về mặt giá trị của các thanh viên gia đình tham gia vào trong hoạt động kinh doanh (Astrachan, 2005). Tuy nhiên, đối với các công ty gia đình có truyền thống lâu đời ở châu Âu, sự tham gia của gia đình không phải kéo dài suốt trong toàn bộ vòng đời của công ty. Có những công ty khi thành lập có sự tham gia của gia đình trong vấn đề sở hữu và quản lý, nhưng trong quá trình phát triển đã không còn là công ty gia đình khi chủ sở hữu không thuộc gia đình và nhà quản lý rút khỏi công ty. Ngược lại, có những công ty trong giai đoạn thành lập không phải là công ty gia đình khi người sở hữu và quản lý không phải là thành viên trong gia đình, nhưng trong giai đoạn phát triển nhận thức được tầm quan trọng của gia đình và sự chuyển giao thế hệ thì lại chuyển sang hình thức công ty gia đình.
Về khía cạnh pháp lý, hầu hết các khái niệm công ty gia đình không tìm thấy trong các văn bản pháp lý ở các nước châu Âu. Ở một vài quốc gia, một số quy định pháp lý về công ty gia đình được đưa ra tương ứng với các nhóm mục tiêu khác nhau chứ không phải là một khái niệm công ty gia đình được thống nhất bằng văn bản pháp lý. Những thách thức trong việc xác định một khái niệm cụ thể về công ty gia đình luôn được quan tâm ở tất cả các quốc gia châu Âu - nơi có lịch sử phát triển của công ty gia đình lâu đời nhất thế giới. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các khái niệm công ty gia đình ở các nước châu Âu, có thể thấy 2 yếu tố quan trọng nhất đó là quyền sở hữu và quản lý, cũng như sự tham gia của gia đình trong kinh doanh được gọi là “yếu tố cấu trúc” (Davis, 2001).
Chỉ có rất ít các khái niệm không đề cập đến khía cạnh sở hữu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra để thiết lập khái niệm công ty gia đình là gì thì khái niệm đó phải đơn giản, rõ ràng, dễ áp dụng và được chấp nhận rộng rãi. Vì mỗi một khái niệm tiếp cận theo các cách khác nhau sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thống kê số lượng công ty gia đình và đóng góp của công ty gia đình đối với việc làm, GDP ở các quốc gia khác nhau. 13 Ở châu Âu, có một khái niệm được đề ra bởi nhóm công tác Phần Lan dựa trên quản trị công ty gia đình thành lập bởi Bộ Công nghiệp và Thương mại Phần Lan năm 2006 (H Ref.
Ares, 2015) là khái niệm đã được chấp nhận rộng rãi, có lợi thế toàn diện và có thể áp dụng vào tất cả các loại hình doanh nghiệp đặc biệt đối với với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Khái niệm được đề xuất như sau: Một doanh nghiệp với quy mô bất kỳ là một công ty gia đình nếu: (1) Hầu hết quyền quyết định thuộc quyền sở hữu của người lập lên công ty hoặc thuộc quyền sở hữu của một người đã thu mua lại vốn cổ phần của công ty hoặc của vợ chồng, cha mẹ, hoặc con cái họ thừa kế trực tiếp. (2) Hầu hết quyền quyết định trực tiếp hoặc gián tiếp. (3) Ít nhất một đại diện của gia đình hoặc thân nhân được chính thức tham gia vào việc điều hành công ty.
(4) Các công ty niêm yết đáp ứng khái niệm về công ty gia đình nếu người thành lập hoặc mua lại công ty (vốn cổ phần) hoặc gia đình họ hoặc con cháu có 25 % quyền ra quyết định bắt buộc bởi số vốn cổ phần của họ. Khái niệm này bao gồm cả những công ty gia đình mà chưa trải qua việc chuyển giao thế hệ đầu tiên. Nó cũng bao gồm những chủ sở hữu duy nhất và những người tự kinh doanh (cung cấp một thực thể pháp lý có thể được chuyển giao). Khái niệm này đại diện cho ý kiến và sự nhất trí của các thành viên trong nhóm chuyên gia trong lĩnh vực công ty gia đình chỉ định bởi các cơ quan quốc gia trong Chương trình Doanh nghiệp và Doanh nhân dưới sự điều phối của Tổng cục Ủy ban cho Doanh nghiệp và Công nghiệp châu Âu.
Nhóm này khuyến nghị sử dụng khái niệm này trong các nước thành viên và những nước khác có liên quan. Khái niệm công ty gia đình ở các quốc gia châu Á Sự thành công của các công ty gia đình trên sàn giao dịch chứng khoán Singapore (SGX) tiêu biểu cho các công ty gia đình ở Đông Nam Á cũng như ở châu Á trên cơ sở tầm quan trọng về số lượng, ý nghĩa, tính bền vững và lợi nhuận của họ. Sở dĩ lựa chọn các công ty gia đình phổ biến trên sàn giao dịch Singapore (SGX) vì Singapore là một trung tâm giao dịch chứng khoán nơi mà rất nhiều công ty từ Trung Quốc, Malaysia, Indonesia và các nơi khác đã chọn niêm yết trên SGX. Khi đưa ra những tiêu chí nhận diện công ty gia đình, có ít nhất 2 yếu tố quan trọng để xác định một công ty được coi là công ty gia đình, đó là (i) Quyền sở hữu của gia đình, (ii) Sự tham gia của các thành viên gia đình trong ban điều hành.
14 Khái niệm công ty gia đình áp dụng cho các công ty niêm yết tại Singapore được tiếp cập trên hai góc độ: Theo nghĩa rộng, công ty gia đình là một công ty trong đó những người đồng sáng lập hoặc thành viên của họ có mặt trong số 20 cổ đông lớn nhất hoặc là thành viên HĐQT. Theo nghĩa hẹp, công ty gia đình là một công ty trong đó những người đồng sáng lập hoặc thành viên gia đình của họ là một trong số 20 cổ đông hàng đầu, đồng thời các thành viên trong gia đình nắm giữ một trong hai vị trí CEO hoặc Chủ tịch HĐQT. Ngưỡng tối thiểu về sở hữu để xem xét các công ty này là công ty gia đình khi (đồng) sáng lập và thành viên gia đình của họ sở hữu ít nhất 5% cổ phần của công ty. Quản lý của Không có sự quản lý của gia đianh gia đình Sở hữu gia đình Không có sở hữu gia đình Hình 1.1: Khái niệm công ty gia đình Nguồn: Marleen Dieleman và cộng sự (2013) Hình 1.1 Minh họa cho các khái niệm khác nhau: - Phần lớn các công ty gia đình hiển thị cả quyền sở hữu và ban điều hành là các thành viên gia đình sẽ rơi vào góc phần I.