mở đầu cho ý tưởng nghiên cứu về mối quan hệ giữa dòng tiền và đầu tư là nghiên cứu của nhóm tác giả Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) với nhận định là những hạn chế trong quy mô nguồn vốn nội bộ cũng như khả năng tiếp cận nguồn vốn bên ngoài…. có ảnh hưởng nhất định đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp và quyết định đầu tư ở các công ty có quy mô nhỏ, mới thành lập, mức chi trả cổ tức thấp, có xu hướng nhạy cảm hơn với dòng tiền.Tuy nhiên trái ngược với nhận định của Fazzari, Hubbard và Petersen (1988), nhóm tác giả Kaplan và Zingales (1997, 2000) khẳng định những công ty không bị giới hạn về tài chính lại nhạy cảm với những cú sốc về dòng tiền.Sau cùng, nghiên cứu của Cleary và các cộng sự (2007) đã giúp tháo gỡ những mâu thuẫn giữa Fazzari và các cộng sự (1988) và Kaplan và Zingales (1997, 2000).Những giả định áp dụng cho mô hình chữ U có hiệu lực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trong thực tế và những ràng buộc về tài chính đã được các tác giả nhìn nhận trên nhiều góc độ. Bên cạnh đó nghiên cứu cùa Hoshi và cộng sự (1991) dựa trên Mức độ quan hệ với Ngân hàng cho kết quả dòng tiền có tác động tích cực và mạnh mẽ đối với đầu tư ở những DN riêng rẽ hơn những DN thuộc tập đoàn. Kết quả nghiên cứu cùa Alti (2003) dựa trên Tỷ lệ chi trả cổ tức cho kết quả dòng tiền có tác động tích cực và có xu hướng nhạy cảm với đầu tư hơn ở những DN trẻ, quy mô nhỏ, tỷ lệ tăng trưởng cao và tỷ lệ chi trả cổ tức thấp.
Kết quả nghiên cứu của Hovakimian và Titman (2006) cho kết quả ở những DN không có HCTC, dòng tiền gần như không hoặc ít nhạy cảm với nguồn quỹ nội bộ và lượng tiền mặt từ bán tài sản hơn ở các DN có nhiều HCTC Điểm qua các nghiên cứu thực nghiệm về độ nhạy cảm của dòng tiền và đầu tư dưới tác động của HCTC, kết quả nhận được là chưa thống nhất mà tùy thuộc vào yếu tố mà nghiên cứu sử dụng làm thước đo xác định HCTC.2 Cơ sở lý thuyết về hạn chế tài chính 2.1 Khái niệm Cho đến nay, vẫn chưa có sự đồng thuận trong việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng về hạn chế tài chính vì hạn chế tài chính không thể trực tiếp quan sát được.Mặc dù vậy, hầu hết các quan điểm đều cho rằng hạn chế tài chính xảy ra khi công ty khó tiếp cận với các nguồn tài trợ bên ngoài. - Theo Ismail và cộng sự (2010), HCTC được định nghĩa là những khó khăn về tài chính gây cản trở trong việc huy động nguồn vốn bên ngoài để tài trợ cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. - Kaplan & Zingales (1997) đã sử dụng định nghĩa là: "Các HCTC là chênh lệch giữa chi phí của việc huy động vốn từ bên trong và bên ngoài công ty" hay công ty có chi phí sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài cao tương đương với công ty bị hạn chế tài chính sẽ dựa nhiều hơn vào các nguồn lực tài chính bên trong để hạn chế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 việc cắt giảm đầu tư dự kiến trong tương lai. Các hạn chế này có thể được gây ra bởi việc không minh bạch thông tin và chi phí môi giới.
Ở mức độ nghiêm trọng, hạn chế tài chính có thể làm cho các công ty không thể huy động được nguồn tài trợ bên ngoài do chi phí sử dụng vốn của các nguồn tài trợ này quá cao.Các công ty bị hạn chế tài chính sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào sự sẵn có của nguồn tài trợ nội bộ để tài trợ cho các cơ hội đầu tư. Hạn chế tài chính có thể chia thành hạn chế tài chính bên trong và hạn chế tài chính bên ngoài. Hạn chế tài chính bên trong liên quan đến việc công ty không có đủ nguồn lực để tự tài trợ cho các quyết định đầu tư; trong khi đó, hạn chế tài chính bên ngoài thường xuất hiện do các bất hoàn hảo trên thị trường vốn như tình trạng bất cân xứng thông tin và vấn đề đại diện khiến công ty hầu như rất khó tiếp cận được các nguồn tài trợ bên ngoài. Dù là hạn chế tài chính bên trong hay hạn chế tài chính bên ngoài thì sau cùng việc thiếu hụt nguồn tài trợ cũng sẽ khiến quyết định đầu tư của công ty phụ thuộc nhiều hơn vào dòng tiền phát sinh nội bộ (Fazzari & cộng sự, 1988; Kaplan & Zingales, 1997; Guariglia, 2008).
Tóm lại, trong một thị trường vốn không hoàn hảo, hạn chế tài chính xảy ra khi các công ty bị giới hạn về khả năng tiếp cận nguồn vốn từ bên ngoài hoặc chi phí sử dụng vốn từ bên ngoài cao hơn đáng kể so với nguồn vốn nội bộ.Điều này dẫn đến chi tiêu đầu tư của các công ty có thể bị hạn chế bởi sự thiếu hụt của nguồn vốn và kết quả là doanh nghiệp có thể bỏ qua một số cơ hội đầu tư hấp dẫn. Mặc dù nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng HCTC ảnh hưởng đáng kể đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong cách xác định và đo lường HCTC. HCTC là đại lượng không quan sát trực tiếp được và xác định một doanh nghiệp có bị HCTC hay không thì chưa có cách đo lường chính xác và thống nhất.1 Các thước đo về hạn chế tài chính • Dòng tiền: Sự nhạy cảm giữa dòng tiền tự do và đầu tư là phương pháp thực nghiệm đầu tiên được Fazzari và cộng sự (1988) đưa ra để đo lường HCTC. Theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 nghiên cứu này, các công ty không bị giới hạn về tài chính có thể dễ dàng huy động từ các nguồn bên ngoài để tài trợ cho các khoản đầu tư của họ.
Do đó, không có sự nhạy cảm giữa dòng tiền và đầu tư được tìm thấy. Ngược lại, đối với các doanh nghiệp bị HCTC, thì sẽ có sự nhạy cảm giữa dòng tiền tự do và đầu tư. • Cổ tức:Các doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp được phân loại là bị HCTC vì các DN này sử dụng hầu hết các nguồn vốn sẵn có để chi trả cho các khoản đầu tư của họ, cho thấy sự nhạy cảm giữa dòng tiền và đầu tư cao hơn so với các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức cao. Nghiên cứu của Steven M.
Glenn Hubbard, and Bruce C. Petersen (1988) xác định doanh nghiệp HCTC dựa trên tỷ lệ cổ tức trên thu nhập. Tỷ lệ này càng thấp thể hiện khả năng thanh khoản thấp, là một đặc điểm của HCTC, các doanh nghiệp này chi trả cổ tức thấp để giữ lại một nguồn quỹ nội bộ đủ lớn để tái tài trợ cho đầu tư. Cava (2005) cho rằ ng các doanh nghiệp được xem là HCTC là những doanh nghiệp cắt giảm cổ tức năm nay so với năm trước đó.
Tuy nhiên cũng có lập luận rằng chi trả cổ tức thấp là do chính sách cổ tức hay biện pháp phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp. • Khả năng thanh khoản: Almeida, Campello & Weisbach (2004) sử dụng một mô hình khác về khả năng thanh khoản. Họ lập luận rằng chính sách tiền mặt của một công ty có thể dùng để phân loại mức độ HCTC. Khi các quỹ nội bộ không đủ để tài trợ cho tất cả các cơ hội đầu tư, công ty phải bỏ qua một số dự án để có thể tài trợ cho các cơ hội hoặc phòng ngừa những cú sốc trong tương lai.
Đối với các công ty bị HCTC, có mối liên hệ cùng chiều giữa biến động chính sách tiền mặt và dòng tiền. Điều này trái ngược với các doanh nghiệp không có HCTC vì họ có thể nhận được quỹ bên ngoài để tài trợ cho các cơ hội đầu tư. • Hạng trái phiếu, thương phiếu: phần lớn trái phiếu, thương phiếu của các DN nhiều HCTC không được xếp hạng là tiêu chí phân loại doanh nghiệp HCTC được lựa chọn bởi các tác giả Whited (1992); Gilchristand Himmelberg (1995) • Đòn bẩy: Hadlock & Pierce (2010) chỉ ra rằng đòn bẩy và dòng tiền có thể dự báo những HCTC cho một công ty TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 • Quy mô doanh nghiệp: là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường HCTC do: (1) chi phí giao dịch giảm theo quy mô, (2) vấn đề lựa chọn - các công ty nhỏ có khả năng hạn chế khi tiếp cận với tài chính bên ngoài và (3) đối với các công ty lớn, dễ dàng tăng thêm nợ nần bằng cách đa dạng hóa đầu tư và giảm rủi ro về phá sản. Kết quả là quy mô của công ty là yếu tố quan trọng đối với mức độ HCTC của một công ty vì các công ty nhỏ hơn có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi thông tin không bất cân xứng, các tài sản thế chấp thấp và chi phí phá sản cao hơn.
Các công ty nhỏ có xu hướng bị HCTC do tầm nhìn hoặc chiến lược của công ty. Kết quả là các nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dự án. Các công ty lớn có nghĩa vụ cung cấp thêm thông tin, và do đó, ít bị ảnh hưởng bởi các vấn đề về bất cân xứng thông tin, từ đó tránh được những HCTC. • Độ tuổi của công ty cũng rất quan trọng.
Mối quan hệ với các nhà đầu tư được xây dựng theo thời gian và bởi do tiểu sử ngắn gọn, các công ty trẻ bị giới hạn trong việc tiếp cận và chinh phục các nhà đầu tư tiềm năng. • Chi phí sử dụng vốn: Kaplan và Zingales (1997): dựa vào chênh lệch giữa CPSDV từ bên ngoài và bên trong doanh nghiệp (các quỹ nội bộ). • Báo cáo tài chính: BCTC của công ty có thể được sử dụng như là một đo lường cho HCTC của mỗi công ty (Kaplan & Zingales, 1997). • Khảo sát: Một giải pháp thay thế là hỏi các công ty về các HCTC của họ.
Các phiếu tự đánh giá được sử dụng trong các cuộc điều tra. Lợi ích của các cuộc điều tra là những HCTC với các cơ hội đầu tư trực tiếp được tính đến và do thực tế được chính công ty trả lời. Tuy nhiên, nhược điểm lớn là sự khách quan của các câu trả lời. Người trả lời có thể có đánh giá khác nhau về tài chính, trong khi hai công ty có cùng điều kiện tài chính.
• Chỉ số: Các chỉ số phù hợp hơn để phân tích những HCTC do sự kết hợp của một số biến số và việc sử dụng thông tin định tính và định lượng.