chương 1 Trong chương này đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức cũng như những kết quả đạt được của các nghiên cứu trước đây. Trong số các nghiên cứu về độ nhạy đạo đức và giới tính, kết quả nghiên cứu khác nhau, có nghiên cứu cho rằng có sự ảnh hưởng của giới tính đến độ nhạy đạo đức nhưng một vài nghiên cứu khác lại cho rằng là không có mối quan hệ giữa chúng. Từ đó, xác định khe hổng nghiên cứu và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận văn. 123doc 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày và giới thiệu những lý thuyết cơ bản có liên quan đến đề tài như các khái niệm nghiên cứu: giới tính, độ nhạy về đạo đức, sinh viên chuyên ngành kế toán.
Trên cơ sở lý thuyết, tác giả sẽ rút ra một số kết luận chung và đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết.1 Giới tính Theo điều 5 luật Bình đẳng giới, Giới chỉ đặc điểm, đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Và giới tính chỉ đặc điểm sinh học của nam và nữ. Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "phụ nữ", đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn. Một số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái.
- Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng. - Đàn bà có một định nghĩa tương tự, nhưng bản thân nó đã không thể hiện sự trang trọng. Nó cho một cái nhìn bao hàm nhìều mặt, cả về khía cạnh xã hội cũng như bản chất sinh học.
Thông thường, chỉ nên sử dụng từ "đàn bà" khi cần một cái nhìn thật sự trung lập, hoặc muốn thể hiện một thái độ thiếu thiện cảm, một chút kỳ thị đối với nữ giới đó, bởi nó khiến người ta liên tưởng đến những mặt xấu, hoặc được cho là xấu, mang đặc trưng và thường gặp ở nữ giới. - Con gái chỉ những nữ giới trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên, những người đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ (nhỏ hơn nữa thì được gọi là bé gái) nhưng chưa được cho là trưởng thành. - Nam giới, ngược với nữ giới, là những người có giới tính nam 123doc 15 Nguồn: https://vi.org/wiki/Phụ_nữ 2.2 Độ nhạy đạo đức Có nhiều khái niệm độ nhạy đạo đức và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Độ nhạy đạo đức là một thành phần quan trọng của hành vi đạo đức (Rest 1986) Độ nhạy đạo đức hay mức độ cảm nhận hay còn gọi là nhận thức về đạo đức (Shaub 1989, Simga-Mugan, Daly và cộng sự 2005) Theo Chan và Leung 2006, Độ nhạy đạo đức đề cập đến nhận thức về những hành động ảnh hưởng đến người khác.
Nó liên quan đến nhận thức về hành động khác nhau và cách hành động có thể ảnh hưởng đến các bên liên quan. Nó liên quan đến việc tưởng tượng xây dựng các kịch bản có thể biết chuỗi quan hệ nhân-quả của sự kiện, sự đồng cảm và kỹ năng “nhập vai” tham gia. Vì vậy, một cá nhân trước hết phải nhận thức về tình huống có ý nghĩa đạo đức. Sau đó, các nhân đó xác định vai trò và ảnh hưởng của tình huống trên tất cả các bên bị ảnh hưởng.
Cuối cùng, các hành động thay thế được xác định và kết quả tiềm năng được đánh giá. (Chan và Leung 2006) Một quan điểm về độ nhạy đạo đức cho rằng độ nhạy đạo đức hoàn toàn là khả năng nhận ra các vấn đề đạo đức. Một quan điểm khác cho rằng độ nhạy đạo đức đòi hỏi sự công nhận các vấn đề đạo đức và mô tả sự quan tâm đến chúng (Sparks và Hunt 1998): - Khái niệm 1: Độ nhạy đạo đức là khả năng nhận thức một tình huống có nội dung đạo đức - Khái niệm 2: Độ nhạy đạo đức là khả năng nhận thức một tình huống có nội dung đạo đức và tầm quan trọng đối với các vấn đề đó. Nhìn chung, các định nghĩa độ nhạy đạo đức trên có sự thống nhất khi cho rằng độ nhạy đạo đức là mức độ nhận thức các vấn đề đạo đức của một cá nhân.
123doc 16 Các ngành nghề nói chung đã bắt đầu điều tra các yếu tố quyết định về độ nhạy đạo đức. Các vấn đề đạo đức được cho là vốn có trong nghề kế toán. Và sự nhạy cảm đạo đức là trách nhiệm nghề nghiệp của kế toán (Shaub 1989). Khách hàng, người sử dụng lao động, và công chúng nói chung đều được hưởng lợi từ các dịch vụ của kế toán viên được chứng nhận.
Trong việc giải phóng trách nhiệm nghề nghiệp của mình, các thành viên có thể gặp phải những áp lực mâu thuẫn giữa các nhóm này. Để giải quyết những xung đột đó, các thành viên nên hành động với tính toàn vẹn, được hướng dẫn bởi giới luật rằng khi các thành viên quan sát trách nhiệm của họ đối với lợi ích của công chúng, khách hàng và nhà tuyển dụng được phục vụ tốt nhất. Theo đó, được hướng dẫn bởi các nguyên tắc cơ bản trong Tiêu chuẩn ứng xử chuyên nghiệp, các thành viên phải thực hiện các phán đoán chuyên nghiệp và sự nhạy cảm đạo đức trong tất cả các hoạt động của họ. (Aderson và Ellyson, 1986, p, 96) Thang đo độ nhạy đạo đức Độ nhạy đạo đức (Moral Sensitive – MS): là biến đại diện cho mức độ nhận thức đạo đức.
Thang đo của độ nhạy đạo đức của sinh viên kế toán được thiết kế dựa trên nghiên cứu của Tom và Borin (1988) và Ameen, Guffey và cộng sự (1996). Khái niệm độ nhạy đạo đức được đo lường thông qua 23 biến quan sát. Hai mươi ba biến quan sát này được ký hiệu từ MS1 đến MS23 (Phụ lục 1) 2.3 Kế toán viên tương lai Theo wikipedia Kế toán viên là khái niệm chung để chỉ tất cả những người làm kế toán, bao gồm kế toán trưởng; các nhân viên kế toán như kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết. Kế toán viên tương lai là những người đang học ngành kế toán và tương lai sẽ trở thành kế toán viên.
123doc 17 Nghiên cứu này tập trung vào sinh viên đang theo học ngành kế toán. Khái niệm sinh viên ngành kế toán sẽ được sử dung trong bài luận văn thay cho khái niệm kế toán viên tương lại 2.2 ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN KIỂM TOÁN Các tiêu chuẩn đạo đức được truyền đạt thông qua Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán kiểm toán theo quyết định 87/2005/QĐ-BTC ngày 1/12/2005, bao gồm các quy tắc đạo đức cơ bản sau: - Độc lập - Khách quan và chính trực - Bảo mật - Năng lực chuyên môn và tính thận trọng - Tư cách nghề nghiệp - Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn Tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cơ bản: Mỗi kiểm toán viên, kế toán viên cần hiểu rõ và ghi nhớ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của mình trong mọi trường hợp nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp. (1989), Giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong trong trường học là một vấn đề cần thiết và cần có sự quan tâm ngày trong việc phát triển các phương pháp tiếp cận mới để truyền đạt tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp và trong việc phát triển các biện pháp sẽ giúp dự đoán về các vấn đề đạo đức trong tương lai, thay vì xử lý những vi phạm sau khi thiệt hại đã xảy ra.1 Lý thuyết tâm lý (Psychological theory): Lý thuyết tâm lý xã hội trong quản trị, còn gọi là lý thuyết tác phong, là những quan điểm quản trị nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội 123doc 18 của con người trong công việc. Lý thuyết này cho rằng, hiệu quả của quản trị do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người.
Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi các nhà tâm lý học trong thập niên 60, và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của con người, một yếu tố quan trọng để quản trị. Trường phái này có các tác giả sau: - RobertOwen (1771- 1858): là kỹ nghệ gia người Anh, là người đầu tiên nói đến nhân lực trong tổ chức. Ông chỉ trích các nhà công nghiệp bỏ tiền ra phát triển máy móc nhưng lại không chú ý đến sự phát triển nhân viên của doanh nghiệp. - HugoMunsterberg (1863- 1916): nghiên cứu tâm lý ứng dụng trong môi trường tổ chức, ông được coi là cha đẻ của ngành tâm lý học công nghiệp.
Trong tác phẩm nhan đề “Tâm lý học và hiệu quả trong công nghiệp” xuất bản năm 1913, ông nhấn mạnh là phải nghiên cứu một cách khoa học tác phong của con người để tìm ra những mẫu mực chung và giải thích những sự khác biệt. Ông cho rằng năng suất lao động sẽ cao hơn nếu công việc giao phó cho họ được nghiên cứu phân tích chu đáo, và hợp với những kỹ năng cũng như tâm lý của họ. - MaryParkerFollett (1863- 1933): là nhà nghiên cứu quản trị ngay từ những năm 20 đã chú ý đến tâm lý trong quản trị, bà có nhiều đóng góp có giá trị về nhóm lao động và quan hệ xã hội trong quản trị. - Abraham Maslow (1908 – 1970): Là nhà tâm lý học đã xây dựng một lý thuyết về nhu cầu của con người gồm 5 cấp bậc được xếp từ thấp lên cao 123doc 19 theo thứ tự: (1) nhu cầu vật chất, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tôn trọng và (5) nhu cầu tự hoàn thiện.
Gregor cho rằng các nhà quản trị trước đây đã tiến hành các cách thức quản trị trên những giả thuyết sai lầm về tác phong và hành vi của con người.