CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Thương hiệu và sản phẩm Trong marketing, thương hiệu được xem là trung tâm của các công cụ marketing vì thương hiệu chính là những gì marketing xây dựng và nuôi dưỡng để cung cấp lợi ích cho khách hàng mục tiêu của mình. Đã từng có rất nhiều quan điểm về thương hiệu và được phân chia thành hai quan điểm chính. Quan điểm truyền thống, theo Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ, thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, kí hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh.
Với quan điểm truyền thống này, thương hiệu được hiểu như một thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là dùng để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cạnh tranh cùng loại [7]. Quan điểm truyền thống về thương hiệu tồn tại trong một thời gian khá dài cùng với sự ra đời và phát triển của ngành tiếp thị. Đến cuối thế kỷ 20, quan điểm thương hiệu đã có nhiều thay đổi. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quan điểm này không thể giải thích được vai trò của thương hiệu trong nền kinh tế thế giới chuyển sang nền kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt.
Quan điểm tổng hợp về thương hiệu cho rằng thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều. Nó là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Theo quan điểm này, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng và nó chỉ là một thành phần của thương hiệu [7]. 9 Quan điểm sản phẩm là một thành phần của thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận.
Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng và chính thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai. Stephen King của tập đoàn WPP cũng cho rằng sản phẩm là những gì được sản xuất trong nhà máy, thương hiệu là những gì khách hàng mua. Sản phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty. Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu, nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu.
Vì vậy, dần dần thương hiệu đã thay thế cho sản phẩm trong các hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp [7]. Nghiên cứu này sẽ dựa trên cơ sở sản phẩm là một thành phần của thương hiệu, và thương hiệu được xem như một thu hút đối với sự chú ý của khách hàng, tạo ra nhận thức về sản phẩm và phân biệt nó với đối thủ cạnh tranh. Thương hiệu là một Sản phẩm là một thành thành phần của sản phẩm phần của thương hiệu SẢN PHẨM THƯƠNG HIỆU Thương Sản phẩm Hình 1. Mô hình về mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu 10 “Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2007), Nghiên cứu khoa học marketing.
Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM” 1. Giá trị thương hiệu Trong những năm vừa qua, khái niệm Giá trị thương hiệu đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và được xem xét từ nhiều quan điểm. Một định nghĩa được sử dụng rộng rãi trong marketing, giá trị thương hiệu như tiện ích gia tăng hay giá trị tăng thêm cho sản phẩm được cảm nhận bởi người tiêu dùng. Sau đó được sử dụng rộng rãi bởi các học viên quảng cáo và được phổ biến rộng rãi hơn bởi David Aaker thông qua cuốn sách được bán chạy nhất với chủ đề “Quản lý Giá trị thương hiệu”.
Sau đó những đóng góp quan trọng khác cũng được phát triển. Quan điểm Giá trị thương hiệu của David Aaker Theo David Aaker (1991), giá trị thương hiệu là tập hợp các tài sản có và tài sản nợ liên quan đến tên và biểu tượng của nó, làm tăng thêm hoặc trừ đi giá trị tạo ra bởi một sản phẩm hay dịch vụ cho một công ty hay cho khách hàng của công ty đó [13]. Theo Aaker, giá trị thương hiệu gồm lòng trung thành thương hiệu, nhận thức thương hiệu, liên tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận. - Lòng trung thành thương hiệu tạo ra giá trị bằng cách giảm chi phí marketing và thúc đẩy bán hàng.
Khách hàng trung thành mong muốn rằng thương hiệu luôn sẵn có và luôn muốn được tư vấn sử dụng thương hiệu đó. Duy trì khách hàng hiện có ít tốn kém hơn thu hút khách hàng mới và thậm chí chi phí chuyển đổi thấp. Với khách hàng trung thành, đối thủ cạnh tranh sẽ gặp khó khăn khi muốn làm hài lòng khách hàng vì họ có ít động lực để tìm hiểu về sự thay thế. Do đó đối thủ cạnh tranh sẽ tăng cường chi nguồn lực để thõa mãn khách hàng và thu hút khách hàng trung thành.
Tuy nhiên, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian và công sức. 11 - Nhận thức thương hiệu, dù chỉ ở mức độ nhận ra thương hiệu, có thể làm cho khách hàng có một cảm giác quen thuộc, dấu hiệu cho sự bền vững và cam kết. Một thương hiệu quen thuộc được xem là đáng tin cậy và có chất lượng hợp lý. Nhận thức ở mức độ nhớ lại ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng.
Những gì thương hiệu được xem xét và lựa chọn phải được đưa ra xem xét đầu tiên trước khi nằm trong danh sách mua hàng. - Chất lượng cảm nhận cung cấp lí do cho việc mua hàng. Nhận thức về chất lượng tổng thể của thương hiệu không nhất thiết phải dựa trên kiến thức về các thông số kĩ thuật chi tiết. Vì khách hàng không phải các chuyên gia trong lĩnh vực này.
Vấn đề xây dựng thương hiệu mạnh mẽ bền vững hàm ý rằng định vị chất lượng trên chất lượng trung bình hoặc ít nhất là chất lượng tối thiểu khi xem xét các thương hiệu được định vụ như các đối thủ cạnh tranh trong thị trường thấp. Chất lượng cảm nhận cũng thu hút lợi ích của các thành viên, cho phép việc mở rộng và hỗ trợ một mức giá cao hơn cung cấp nguồn lực để tái đầu tư vào thương hiệu. - Liên tưởng thương hiệu đề cập đến các cá nhân, một bối cảnh sử dụng, phong cách sống. Những điều này có thể thay đổi kinh nghiệm sử dụng và có ích trong quá trình lấy lại thông tin một cách cụ thể.
Hai sản phẩm giống hệt nhau với liên tưởng thương hiệu khác nhau có thể tạo ra hiệu ứng khác nhau trong việc sử dụng. Những liên tưởng đóng vai trò là những yếu tố quan trọng trong định vị và tạo nên sự khác biệt, cung cấp lý do mua hàng cho khách hàng tiềm năng. Nếu một thương hiệu được định vị tốt dựa trên các thuộc tính quan trọng của sản phẩm thì các nổ lực tấn công bằng việc khẳng định các tính ưu việt của sản phẩm sẽ gặp thất bại, do vậy mà liên tưởng thật sự là một rào cản với đối thủ cạnh tranh. Một liên tưởng thương hiệu mạnh mẽ là nền tảng cho việc mở rộng thương hiệu, cung cấp các lợi thế cạnh tranh đáng kể trong thị trường mục tiêu.
12 Các tài sản thương hiệu khác đề cập đến các bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, các mối quan hệ qua đó mang lại lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ. Nhãn hiệu hàng hóa sẽ bảo vệ giá trị thương hiệu từ đối thủ cạnh tranh muốn mang lại sự nhầm lẫn cho khách hàng với một cái tên tương tự, một biểu tượng hay kiểu bao bì tương tự. Một bằng sáng chế có thể ngăn chặn cạnh tranh trực tiếp nếu nó mạnh và có ảnh hưởng đến tiến trình quyết định mua của khách hàng. Một kênh phân phối có thể được điều khiển gián tiếp bởi thương hiệu vì khách hàng thường mong đợi thương hiệu luôn sẵn có.
Mô hình giá trị thương hiệu của Aaker liệt kê 3 cách làm thế nào tài sản thương hiệu mang lại giá trị cho khách hàng. Giá trị thương hiệu giúp khách hàng giải thích, xử lý thông tin, lưu trữ, và lấy lại thông tin về sản phẩm và thương hiệu. Thứ hai nó có thể ảnh hưởng đến sự tự tin của khách hàng trong các quyết định mua hàng. Khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái hơn với thương hiệu đã được sử dụng trước đó, được xem là có chất lượng cao hơn và quen thuộc.
Chất lượng cảm nhận và liên tưởng thương hiệu mang đến giá trị cho khách hàng bằng việc nâng cao sự thõa mãn của khách hàng. Mô hình giả định 6 cách tạo ra giá trị cho công ty. Trước hết giá trị thương hiệu góp phần nâng cao hiệu quả của các chương trình marketing. Một chương trình cổ động sẽ hiệu quả hơn nếu thương hiệu là quen thuộc và người tiêu dùng sẽ không hoài nghi về chất lượng thương hiệu.
Nhận thức thương hiệu, chất lượng cảm nhận và liên tưởng thương hiệu có thể gia tăng lòng trung thành thương hiệu bằng việc gia tăng sự thõa mãn của khách hàng và cung cấp lí do cho việc mua hàng. Giá trị thương hiệu sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho sản phẩm, cho phép tăng giá và giảm sự phụ thuộc vào khuyến mãi. Giá trị thương hiệu còn cung cấp nền tảng cho sự mở rộng thương hiệu và đòn bẩy trong các kênh phân phối. Một thương hiệu mạnh đại diện cho rào cản giảm nguy cơ khách hàng sẽ chuyển sang đối thủ cạnh tranh.
Quan điểm Giá trị thương hiệu của Kevin Keller Định nghĩa của Keller (2003) giá trị thương hiệu theo quan điểm khách hàng như hiệu ứng khác biệt của kiến thức thương hiệu lên người tiêu dùng với chương trình marketing của thương hiệu. Keller cho rằng giá trị thương hiệu gồm nhận thức thương hiệu và hình ảnh thương hiệu. Theo ông, kiến thức thương hiệu được định nghĩa gồm hai thành phần là nhận thức thương hiệu và hình ảnh thương hiệu. Nhận thức thương hiệu là khả năng khách hàng có thể nhận ra thương hiệu trong các điều kiện khác nhau, bao gồm nhận diện thương hiệu và nhớ lại thương hiệu.
Hình ảnh thương hiệu được định nghĩa là nhận thức về thương hiệu được phản ánh bởi liên tưởng thương hiệu trong tâm trí khách hàng. Keller phân loại liên tưởng thương hiệu thành ba dạng chính là lợi ích, thuộc tính và thái độ. Các liên tưởng này có thể thay đổi tùy theo sự ưa thích, sức mạnh và tính độc đáo của chúng.