Chương 1: Giới thiệu 1.1 Lý do thực hiện đề tài Một trong những nhiệm vụ đặt ra cho nhà quản lý quản trị tài chính doanh nghiệp là thiết lập được cấu trúc vốn hợp lý, nhằm tạo ra giá trị cao nhất cho cổ đông. Như chúng ta đã biết không có một cấu trúc vốn tối ưu trong thị trường vốn hoàn hảo. Theo lý thuyết M&M thì trong thị trường vốn hoàn hảo, thì việc lựa chọn cấu trúc vốn như thế nào không tác động đến giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc tìm kiếm một thị trường vốn hoàn hảo trong thực tế là không thể, cho nên ra đời nhiều lý thuyết về tác động làm thay đổi cấu trúc vốn lên giá trị của doanh nghiệp, ví dụ như lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết chi phí đại diện.
Bên cạnh những lý thuyết nghiên cứu, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã ra đời nhằm kiểm chứng các mô hình lý thuyết. Đối tượng nghiên cứu rất đa dạng từ các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp được niêm yết chính thức, đến các doanh nghiệp chưa niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán. Bên cạnh những yếu tố về thuế hay chi phí kiệt quệ tài chính, thì yếu tố hiện diện đầu tư nước ngoài chưa được chú ý khi xem xét đến cấu trúc vốn. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay, đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đã và đang theo xu thế toàn cầu hóa. Việc một quốc gia phát triển phải đặt vào bối cảnh của thế giới. Việc mở rộng cửa kinh doanh đặt ra nhiều thách thức cũng như nhiều cơ hội cho chính đất nước của chúng ta. Trong điều kiện doanh nghiệp được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa như thế này, chúng ta cần có những nghiên cứu thực nghiệm nhiều hơn nữa, nhằm xem xét sự tác động của hiện diện đầu tư nước ngoài đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Vì thế tôi đã chọn đề tài: “Sự ảnh hưởng của hiện diện đầu tư nước ngoài đến đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp. Dựa trên bài nghiên cứu của hai tác giả Sajid Anwar, Sizhong Sun (2015): “Can the presence of foreign investment affect the capital structure of domestic firms” nghiên cứu trên thị trường Trung Quốc.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu mức độ hiện diện đầu tư nước ngoài tại một doanh nghiệp trong nước (đại diện là doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam), có thể ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp trong nước hay không. Sử dụng dữ liệu bảng, thời gian từ năm 2008-2015 của các doanh nghiệp (phi tài chính) đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Đồng thời xem xét một cách riêng biệt tác động của sự hiện diện của nước ngoài về cơ cấu sở hữu nhà nước. Xem xét sự tác động của đầu tư nước ngoài đến các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau. Câu hỏi nghiên cứu: - Sự hiện diện của đầu tư nước ngoài có tác động đến đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp trong nước hay không ? - Hiện diện đầu tư nước ngoài tác động đến cấu trúc vốn các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau có khác nhau không ? - Sự hiện diện của đầu tư nước ngoài có tác động đến đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có sở hữu của nhà nước hay không ? 1.3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Mẫu dữ liệu Do tính chất riêng biệt của các công ty tài chính, là công ty huy động vốn hoặc sử dụng nguồn vốn nội bộ của công ty đem cho vay, cung cấp các dịch vụ tài chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 trên thị trường. Nên trong bài nghiên cứu này, tác giả loại bỏ những công ty này ra khỏi mẫu dữ liệu.
Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính trên các website chính thức của các công ty và trên công ty chứng khoán Vietstock. Tiến hành thu thập dữ liệu và sau khi sàng lọc, tác giả thu được bảng dữ liệu gồm 316 công ty phi tài chính niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán là HOSE và HNX từ năm 2008-2015 với số quan sát 2528. Việc lựa chọn ngành và công ty chủ yếu dựa vào số liệu thứ cấp. Cách phân ngành dựa theo tiêu chuẩn phân ngành quốc tế (ICB – Industry Classification Benchmark) và được cung cấp bởi công ty đầu tư Vietstock.
Có chín ngành công nghệ thông tin, công nghiệp, dầu khí, dịch vụ tiêu dùng, dược phẩm y tế, hàng tiêu dùng, vật liệu cơ bản, bất động sản, tiện ích. Phương pháp hồi quy Trong bài sử dụng phần mềm Stata để chạy các mô hình hồi quy, nhằm nghiên cứu tác động của hiện diện đầu tư nước ngoài lên đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bài nghiên cứu, ứng dụng ba mô hình của bài nghiên cứu Anwar và Sun (2015). Mô hình OLS: Đây là phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất.
Trong bài nghiên cứu, tác giả hồi quy OLS với các biến giả năm. Tuy nhiên, khi biến độc lập là hiện diện đầu tư ngước ngoài có khả năng xảy ra tượng nội sinh, vi phạm giả định của ước lượng OLS, sẽ làm cho kết quả ước lượng bị sai lệch, nên tác giả sẽ sử dụng mô hình tobit có biến công cụ để khắc phục hiện tượng này. Mô hình Tobit: Đây phương pháp hồi quy khi biến phụ thuộc bị kiểm duyệt (trường hợp này đã xảy ra khi biến độc lập vẫn quan sát được, nhưng biến phụ thuộc đã bị chặn tại một điểm). Ước lượng OLS sẽ bị chệch khi có hiện tượng biến phụ thuộc bị kiểm duyệt.
Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc là tỷ lệ đòn bẩy tài chính, chạy trong khoảng từ 0 đến 1, vì thế tác giả sử dụng mô hình Tobit. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Mô hình Tobit có biến công cụ: trong bài nghiên cứu thì biến độc lập chính fp có thể bị hiện tượng nội sinh. Lý do có thể các công ty nước ngoài có khuynh hướng gia nhập ngành mà các công ty có đòn bẩy thấp, hoặc các công ty có đòn bẩy thấp có nhiều khả năng các công ty nước ngoài sẽ mua lại. Trong cả hai trường hợp, sự hiện diện của nước ngoài trong phương trình có thể là nội sinh.
Do đó để giải quyết việc này, tác giả sử dụng độ trễ một năm của sự hiện diện đầu tư nước ngoài (fp) và số lượng công ty trong ngành để làm biến công cụ. Kết luận: bài nghiên cứu sẽ trình bày kết quả phân tích thực nghiệm và ngiên cứu thực tế về sự tác động của sự hiện diện đầu tư nước ngoài tới đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch HOSE và HNX tại Việt Nam.4 Ý nghĩa thực hiện đề tài Qua bài nghiên cứu, tác giả nhận thấy được mối quan hệ không cùng chiều giữa yếu tố đầu tư nước ngoài đến đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp (phi tài chính) được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008-2015. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của hai tác giả Sajid Anwar, Sizhong Su xem xét trên thị trường Trung Quốc từ 2000-2007. Ở Việt Nam, yếu tố đầu tư nước ngoài có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn (trong bài đo bằng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiêp, được tính bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản).
Tức là một sự gia tăng đầu tư nước ngoài sẽ làm giảm hệ số vay nợ của các công ty trong nước. Sự tác động của hiện diện đầu tư nước ngoài đến các ngành theo hệ thống phân ngành của Việt Nam, thì có sự khác nhau nhỏ, một vài ngành chưa đủ số liệu để ra được những con số có ý nghĩa thống kê, và một vài ngành như ngành xây dựng thì sự hiện diện đầu tư nước ngoài và đòn bẩy tài chính vẫn là tương quan âm, ngược chiều nhau. Từ đó ta tranh thủ để có thể tận dụng vốn đầu tư nước ngoài để tăng trưởng của các doanh nghiệp trong nước một cách hiệu quả nhất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Kết quả của nghiên cứu thực nghiệm này sẽ cung cấp thêm thông tin về hiện diện vốn đầu tư nước ngoài trong tài trợ vốn cho doanh nghiệp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết 2.1 Các lý thuyết cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (M&M) Đây là nghiên cứu khởi đầu cho sự phát triển các nghiên cứu về cấu trúc vốn hiện đại do Franco Modigliani và Merton Miller đề xuất năm 1958. Với hai trường hợp được nghiên cứu là doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện không có thuế và có thuế. Trong trường hợp không có thuế, giá trị doanh nghiệp có vay nợ và không vay nợ là như nhau, do đó cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Vì vậy, không có cơ cấu vốn nào là tối ưu và doanh nghiệp cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn của mình.
Và lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với tỷ số nợ, tức với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Các kết luận trên được đưa ra dựa trên các giả định về thị trường vốn là thị trường hoàn hảo, không có thuế, thông tin cân xứng, không có chi phí giao dịch, không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính, lãi suất vay và cho vay như nhau, cá nhân và doanh nghiệp cơ hội tiếp cận với nguồn vốn là như nhau. Tuy nhiên, các giả định trên khó có thể xảy ra nên đã hạn chế khả năng ứng dụng của lý thuyết M&M trong thực tế. Trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị doanh nghiệp không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế.
Trong trường hợp có thuế thì lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính. Từ lý thuyết M&M, rất nhiều nghiên cứu khác phát triển tiếp trên cơ sở lược bỏ bớt những giả định mà lý thuyết này đặt ra. Lý thuyết đánh đổi cơ cấu vốn (static trade- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.