Chương 1: Tổng quan về tài chính hành vi Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích kết quả Chương 4: Kết quả và bàn luận 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH HÀNH VI 1.1 Lý thuyết tài chính Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế. Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế. Có hai lý thuyết quan trọng trong lý thuyết tài chính chính thống: (i) Những người tham gia vào thị trường thì hoàn toàn hợp lý: hành vi hợp lý hoàn toàn ngụ ý rằng bất kỳ thông tin mới nào có sẵn cũng được phản ánh đầy đủ vào giá chứng khoán. Gía cả phản ánh giá trị thực của cổ phiếu.
(ii) Thị trường hiệu quả: Một thị trường tài chính được xem là hiệu quả khi giá hiện tại của chứng khoán phản ánh đầy đủ những thông tin về các yếu tố như thực trạng nền kinh tế quốc gia và quốc tế, số liệu về kết quả hoạt động của các công ty có cổ phiếu giao dịch trên thị trường. Những yếu tố này thay đổi sẽ làm cho giá trị thực của chứng khoán thay đổi. Do đó, giá cả biến động tùy theo tốc độ phản ứng của thị trường trước những thông tin mới. Như vậy theo lý thuyết tài chính chính thống thì các tài sản tài chính kết hợp tất cả các thông tin và giá cả được xem xét như điều kiện dự đoán tốt nhất của giá trị đầu tư thật sự tại tất cả thời gian.
Lý thuyết tài chính chính thống dựa vào nguyên tắc rằng mọi người hành xử có lý trí, tối đa hóa lợi ích mong đợi một cách chính xác và xử lý được tất cả các thông tin. Nói một cách khác, tài sản tài chính thì luôn luôn được định giá hợp lý và được phổ biến tới công chúng. Giá chứng khoán được mô tả xấp xỉ một cách ngẫu hứng theo thời gian: Giá thay đổi không thể dự đoán được vì chúng xuất hiện khi phản ứng đối với thông tin thật sự mới và không dự đoán được. 5 Giả định là khi con người có tài sản giá trị, họ cư xử một cách hợp lý trong các quyết định tài chính.
Mặc dù những mô hình này làm cuộc cách mạng nghiên cứu về tài chính vẫn có nhiều lỗ hổng chưa có câu trả lời. Nhiều bằng chứng cho thấy hành vi con người không phải luôn hợp lý, giá chứng khoán không phải luôn phản ánh giá trị thực (giá cổ phiếu sau IPO thường thấp hơn giá chứng khoán khác, hiệu ứng tháng Giêng…) Điều này đòi hỏi phải có một cơ sở lý thuyết đầy đủ có thể giải thích được các nội dung này. Đây chính là các lý thuyết về tài chính hành vi. Các nhà nghiên cứu tâm lý học đã cho rằng, đối với các quyết định liên quan đến tiền thì con người hay cư xử rất kỳ quặc.
Các nhà tâm lý học cũng tìm thấy các quyết định kinh tế học thì thường được đưa ra một cách dường như không hợp lý. Lỗi nhận thức và cảm xúc thái quá có thể làm cho nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư xấu. Shiller (2005) cung cấp bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm để ủng hộ lý thuyết định giá tài sản CAMP, thuyết thị trường hiệu quả (EMH) và một vài lý thuyết tài chính chính thống khác đạt được thành công trong việc dự đoán và giải thích các sự kiện nhất định. Tuy nhiên, các học giả bắt đầu tìm kiếm các khác biệt và hành vi mà lý thuyết tài chính chính thống chưa giải thích được.
Hai ví dụ điển hình là (i) Hiệu ứng tháng Giêng là một bất thường trong thị trường tài chính khi mà giá chứng khoán tăng vào tháng giêng mà không có lý do đặc biệt nào. Với các cơ sở lý thuyết đã đưa ra ở trên cho thấy lý thuyết tài chính chính thống chưa phát huy hết được vai trò của nó trong việc giải thích các hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Trong luận văn này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.2 Lý thuyết về tài chính hành vi 6 Trong những nghiên cứu hiện nay thì tài chính hành vi đã trở thành một phần không thể thiếu đến các quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động đầu tư (Navaneethakrishnan và ctg, 2014). Tài chính hành vi là một lĩnh vực tài chính đưa ra các lý thuyết đựa trên các phân tích tâm lý để giải thích những diễn biến bất thường trên thị trường chứng khoán.
Tài chính hành vi thường dựa trên giả định rằng cấu trúc thông tin và đặc tính của những người tham gia vào thị trường chứng khoán đều bị ảnh hưởng một cách hệ thống bởi các quyết định đầu tư cá nhân cũng như các tác động của thị trường. Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng không phải lúc nào cũng có thể xảy ra. Có nghĩa là sẽ có trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý” sẽ không thể chiến thắng những nhà đầu tư “bất hợp lý”. Lúc này thị trường sẽ không hiệu quả, hay tài sản tài chính được định giá quá cao hoặc quá thấp.
Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra các hiện tượng đã xảy ra trong thị trường chứng khoán đối lập với thuyết thị trường hiệu quả, không thể giải thích được một cách thoả đáng theo mô hình này nhưng lại có thể lý giải dựa trên các lý thuyết tài chính hành vi. Hãy cùng xét môt ví dụ: Giả sử cho một người lựa chọn giữa việc chắc chắn nhận được 50 đồng và tung đồng xu, nếu được thì anh ta sẽ có 100 đồng, nếu không được thì anh ta sẽ chẳng có gì. Một khả năng là người này lựa chọn bỏ túi 50 đồng. Tuy nhiên anh ta cũng có thể thử vận may với trò chơi sấp ngửa, xác suất là 50:50.
Thông thường thì mọi người có xu hướng tung đồng xu để kiếm thêm được 50 đồng mặc dù việc này có thể khiến anh ta mất luôn cả 50 đồng mà lẽ ra anh ta lẽ ra đã có được một cách chắc chắn. Ngược lại, nếu phải lựa chọn mất chắc chắn 50 đồng hoặc cũng chơi trò đồng xu sấp ngửa và mất 100 đồng hoặc không mất gì cả. Họ có thể chọn chơi sấp ngửa. Sự may rủi trong việc tung đồng xu sấp ngửa trong cả hai trường hợp là tương đương nhau nhưng con người lại chọn cách tham gia trò chơi để giảm thiểu những khoản lỗ, thậm chí là trò chơi này có thể sẽ mang đến một 7 khoản lỗ lớn hơn.
Điều này cho thấy khuynh hướng con người xem xét khả năng b đắp một khoản lỗ còn quan trọng hơn khả năng kiếm được một lợi nhuận lớn hơn. Tài chính hành vi cũng khám phá ra rằng các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư với giá trị lớn mà chỉ dựa trên lượng thông tin ít ỏi từ một nguồn duy nhất. Các nhà đầu tư thường quá tự tin vào phán quyết của mình và tin vào những lời đồn thổi hơn là sự thật hiển hiện trước mắt mình.Trên thực tế có rất ít các nhà đầu tư giá trị sử dụng các nguyên lý hành vi để tìm ra cổ phiếu nào rẻ nhưng lại mang lại thu nhập thực sự cho họ. Lý thuyết tài chính hành vi hiện vẫn nặng về học thuật hơn là khả năng ứng dụng để quản lý tiền tệ và đầu tư.
Lý thuyết tài chính hành vi không thể cung cấp một phương thức đầu tư kì diệu, nhưng lại có thể giúp các nhà đầu tư cẩn trọng hơn đối với các hành vi đầu tư của mình, từ đó có thể tránh được các sai lầm khiến họ trở nên nghèo hơn. Theo Sewell (2007), hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về tài chính hành vi nhưng chủ yếu chỉ ra tài chính hành vi nghiên cứu ảnh hưởng của tâm lý lên hành vi của những người tham gia trên thị trường tài chính và kết quả là những ảnh hưởng đó lên thị trường. Như vậy hành vi tài chính là một cách hiểu mới về tài chính giúp bổ sung vào các lý thuyết tài chính cơ bản bằng cách giải thích hành vi của quá trình ra quyết định. Ngược lại với lý thuyết của Markowitz và Sharp hành vi tài chính giải quyết vấn đề của các cá nhân và cách mà họ thu thập và sử dụng thông tin.
Hành vi tài chính tìm cách để hiểu và dự đoán được quá trình ra quyết định có quan hệ đến hệ thống thị trường tài chính. Ngoài ra, nó còn tập trung vào việc áp dụng các nguyên lý tâm lý và kinh tế để cải thiện việc ra quyết định tài chính (Olsen, 1998). Tài chính hành vi được định nghĩa như là một lĩnh vực tài chính để giải thích những khác thường trên thị trường chứng khoán bằng việc sử dụng những thành kiến tâm lý hơn là bỏ qua những kết quả ngẫu nhiên phù hợp với giả thuyết thị trường hiệu quả (Fama, 1998). Nó được giả định rằng các nhà đầu tư cá nhân và các 8 kết quả của thị trường thì bị ảnh hưởng bởi các cấu trúc thông tin, các đặc điểm tính cách khác nhau của những người tham gia thị trường (Banerjee, 1992) 1.3 So sánh giữa tài chính chính thống và tài chính hành vi Giữa những năm 1950, lĩnh vực tài chính được thống trị bởi các mô hình tài chính chính thống (vốn được xem như là mô hình tài chính chuẩn) được phát triển một cách căn bản bởi các nhà kinh tế thuộc đại học Chicago.
Những giả định trung tâm của tài chính chính thống là con người là hợp lý. Tuy nhiên các nhà tâm lý học đã thách thức nhận định này. Họ lập luận rằng con người thường chịu ảnh hưởng bởi nhận thức, các lệch lạc cảm xúc và hành động dường như là phi lý trí. Lĩnh vực tài chính không chấp nhận quan điểm của những nhà tâm lý học, những người đề xuất ra những mô hình tài chính hành vi.
Thật vây, những đề xuất ban đầu của tài chính hành vi được xem như là dị giáo. Do những ảnh hưởng của tâm lý và cảm xúc lên các quyết định được xác nhận, tài chính hành vi ngày càng được sự chấp nhận rộng rãi.