Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này tác giả nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp và bố cục của luận văn. Chương 2: Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt, quản trị vốn luân chuyển đến giá trị công ty. Nội dung chương này bao gồm tập hợp những nghiên cứu mới nhất về lĩnh vực nghiên cứu trên phạm vi toàn thế giới. Không những cung cấp thông tin tổng quát về nhiều nghiên cứu có giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 trị trong lĩnh vực, nội dung chương còn đề cập tới những xu hướng khác biệt trong kết quả nghiên cứu của cùng một chủ đề trên thế giới.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các giả thiết nghiên cứu và cơ sở dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, chương này trình bày kết quả hồi quy, kiểm định các giả thiết nghiên cứu và thảo luận về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt, quản trị vốn luân chuyển đến giá trị công ty từ kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, chương này rút ra kết luận của bài nghiên cứu, các hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT, QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN GIÁ TRỊ CÔNG TY 2.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tính hai mặt của việc nắm giữ tiền mặt của công ty. Joseph (1974) nghiên cứu về sự không hợp lý của chính sách tài chính đã cho rằng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các quyết định tài chính sẽ không tác động đến giá trị công ty. Theo đó, việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản và các quyết định đầu tư vào tài sản ngắn hạn sẽ không ảnh hưởng đến giá trị tài sản của các cổ đông. Sau đó một năm, Opler, Pinkowitz, Stulz và Williamson cũng đã đưa ra kết luận tương tự khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc nắm giữ tiền mặt không được ủng hộ một cách tuyệt đối. Sự tồn tại thị trường cạnh tranh không hoàn hảo ngụ ý rằng, có một mức tiền mặt được nắm giữ tối ưu, mà tại đó cân bằng giữa chi phí và lợi ích của việc nắm giữ tiền, để từ đó có thể tối đa hóa giá trị của công ty. Xét về lợi ích, các công ty cần tiền mặt để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách bình thường và có thể tận dụng lợi thế của các cơ hội đầu tư sinh lợi trong tương lai cũng như để đáp ứng các sự kiện không lường trước được. Hơn nữa, việc nắm giữ tiền mặt cũng là cách nhằm làm giảm sự phụ thuộc của công ty vào nguồn tài trợ bên ngoài nhiều tốn kém do sự hiện diện của thông tin bất cân xứng giữa chủ nợ và người đi vay.
Thực tế cho thấy, việc huy động nguồn tài trợ bên ngoài thông qua thị trường vốn sẽ khó khăn và tốn kém hơn đối với các công ty thường là do các vấn đề liên quan đến lựa chọn đối nghịch, đặc biệt là đối với những công ty có ít mối quan hệ với ngân hàng hay các tổ chức cho vay vốn. Trong tình huống này, công ty cần phải thiết lập một hệ thống phân cấp về tài chính và cần có những quyết định chính xác trước khi vay nợ, theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984). Cũng theo lý thuyết này, chi phí vay có thể tránh được nếu công ty có khả năng giữ lại tiền mặt trong nội bộ để thực hiện các dự án đầu tư có NPV dương. Nói cách khác, các nhà quản lý có thể tránh được vấn đề này bằng cách xác định mức tiền mặt cần nắm giữ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cho công ty.
Nắm giữ tiền mặt lúc này sẽ có lợi vì công ty có thể tận dụng được các cơ hội đầu tư, đặc biệt là cho các công ty có khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài. Ngoài ra, việc đảm bảo tính thanh khoản cũng làm giảm khả năng phát sinh chi phí tài chính nếu hoạt động của công ty không tạo ra dòng tiền đủ để đáp ứng việc thanh toán các khoản nợ bắt buộc (Faulkender và Wang, 2006). Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cũng đã đề cập đến mặt trái của việc nắm giữ tiền của các công ty, chẳng hạn như nắm giữ tiền có thể gây ra các vấn đề đại diện giữa các nhà quản lý và cổ đông khi có sự tồn tại của dòng tiền tự do lớn, điều này tạo ra hành vi tùy ý của các nhà quản lý và từ đó gây hại đến lợi ích của cổ đông (Jensen, 1986). Liên quan đến vấn đề lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt, năm 1979, Jensen và Meckling cũng đã làm rõ những lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt.
Trước tiên, nắm giữ tiền là để phòng ngừa, việc công ty duy trì được tính thanh khoản sẽ giúp công ty linh hoạt hơn trong việc giải quyết các tình huống bất ngờ. Thứ hai, đối với các hoạt động giao dịch, tiền mặt có thể đáp ứng những nhu cầu từ những hoạt động bình thường của công ty như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết đúng hạn đảm bảo uy tín của doanh nghiệp đối với chủ nợ, hạn chế việc gây gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh và nhiều hậu quả kéo theo như mất thị phần, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp,…Thứ ba, công ty dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện cơ hội đầu tư tốt, bởi sự có mặt của bất cân xứng thông tin có thể gia tăng chi phí tài chính từ bên ngoài (Myers và Majluf, 1984). Việc duy trì một mức dự trữ tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu khi mua hàng, làm tăng hệ số khả năng thanh toán. Hơn thế nữa, sự tồn tại của chi phí đại diện có thể làm gia tăng chi phí để các công ty có được nguồn tài trợ bên ngoài, điều này có thể dẫn đến việc các công ty bỏ qua việc đầu tư vào các dự án có NPV dương (Myers, 1984).
Vì vậy, các nhà quản lý của công ty nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao là nhằm để giảm chi phí phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài. Nói như thế không có nghĩa là khi công ty có càng nhiều tiền mặt thì luôn luôn tốt. Việc đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao cũng có những bất lợi vì phát sinh nhiều chi phí. Một mức tiền mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể khiến cho nhà đầu tư đặt ra nhiều câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao hơn mức bình thường.
Tại sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem đi đầu tư? Nhà đầu tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã bị mất các cơ hội đầu tư hoặc là ban quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không thể biết làm gì với lượng tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều có thể làm cho doanh nghiệp mất chi phí cơ hội, nếu công ty bỏ qua những dự án đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận. Chi phí cơ hội của tiền mặt trong trường hợp này được hiểu là sự khác biệt giữa lãi suất có được khi nắm giữ tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng và cái giá phải trả để có được tiền mặt chính là chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp - WACC. Mặt khác, dự trữ tiền mặt nhiều có thể làm gia tăng mâu thuẫn giữa nhà quản trị và cổ đông hay nói cách khác, chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong tình huống này.
Theo đó, nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng dòng tiền tự do một cách tùy ý, điều này sẽ gây ra mâu thuẫn với lợi ích của cổ đông (Jensen, 1986). Khi các nhà quản trị muốn gia tăng mức tiền mặt nắm giữ trong doanh nghiệp, các nhà quản trị luôn đưa ra những lời giải thích có vẻ như rất hợp lý: tiền mặt nhiều có thể giúp doanh nghiệp có tính linh hoạt về mặt tài chính hơn; thực hiện các phi vụ thâu tóm một cách nhanh chóng hơn. Thế nhưng, với các doanh nghiệp có lượng tiền mặt nhiều hơn mức cần thiết mà các lý thuyết đề nghị thì sẽ nảy sinh các vấn đề đại diện. Các nhà quản trị có thể thực hiện những vụ thâu tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm phục vụ cho các lợi ích cá nhân, các động cơ bên trong đó chính là việc tư lợi của các nhà quản trị.
Thậm chí trong tình huống tệ hơn, các doanh nghiệp có lượng tiền mặt quá dồi dào còn giúp cho các nhà quản trị giảm áp lực cho quá trình vận hành doanh nghiệp. Họ không bị sức ép phải tính toán điều hành hợp lý nhất để đáp ứng được các nghĩa vụ ngắn hạn như các doanh nghiệp chỉ có lượng tiền mặt vừa phải theo mức cần thiết. Liên quan đến vấn đề số dư tiền mặt, có hai trường phái đối lập nhau. Myers và Majluf (1984) lập luận rằng nhiều công ty nắm giữ số lượng tiền mặt lớn để tránh việc gia tăng nguồn tài trợ bên ngoài vì số dư tiền mặt tạo ra nhiều lợi ích tài chính, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhưng không dẫn đến chi phí đại diện.
Ở một khía cạnh khác Jensen (1986) đề xuất rằng các công ty chỉ nắm giữ số dư tiền mặt tối thiểu vì dư thừa tiền mặt dẫn đến chi phí đại diện nhưng không tạo ra lợi ích tài chính. Vì lý do này, DeAngelo (2007) đã thực hiện nghiên cứu của mình về vấn đề nên nắm giữ tiền mặt bao nhiêu là đủ?