CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề cơ bản về chính sách cổ tức Cổ tức được hiểu là một phần lợi nhuận sau thuế của công ty dành để chi trả cho các cổ đông (chủ sở hữu công ty). Cổ tức còn được gọi là lợi tức cổ phần. Chính sách phân phối lợi nhuận giữa các công ty có sự khác nhau, theo từng loại hình công ty và quy mô lợi nhuận đạt được, nhưng nhìn chung lợi nhuận của công ty thông thường được phân phối như sau: - Nộp thuế thu nhập công ty theo quy định pháp luật hiện hành. - Bù đắp khoản lỗ của năm trước không được trừ trước thuế.
- Trích lập các quỹ theo quy định. - Chia lãi cho các chủ sở hữu. - Lợi nhuận giữ lại bổ sung tái đầu tư. Trong công ty cổ phần, lợi nhuận sau khi nộp thuế thu nhập công ty một phần dùng để phân phối cho các chủ sở hữu (mức phân phối này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian thành lập công ty, quy mô công ty, quy mô lợi nhuận, dòng tiền hoạt động…) và phần còn lại nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn tăng thêm hoặc dự phòng cho những bất ổn trong tương lai.
Chính sách phân chia lợi nhuận sau thuế của công ty cổ phần được gọi là chính sách cổ tức. Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu phần trăm được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai thông qua việc tái đầu tư mở rộng, cổ tức chi trả cho những cổ đông thì mang lại nguồn lợi nhuận hiện tại. Nội hàm của chính sách cổ tức ngoài việc ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và cổ tức chi trả cho cổ đông, còn bao gồm hình thức chi trả cổ tức, số lần chi trả cổ tức, thời hạn thanh toán và các vấn đề khác như nghĩa vụ của công ty với các cổ đông.
Đối với công ty cổ phần luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. 6 Quyền quản lý thuộc về hội đồng quản trị công ty, còn sở hữu thuộc về các cổ đông, tuy nhiên hội đồng quản trị của công ty đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng có tính chất chiến lược về việc chi trả cổ tức. Chính sách cổ tức được xem là một trong ba quyết định tài chính quan trọng trong công ty và nó có mối liên hệ mật thiết với hai chính sách tài chính còn lại là chính sách tài trợ và chính sách đầu tư.1 Vai trò của chính sách cổ tức Thứ nhất, chính sách cổ tức có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông. Cổ tức cung cấp cho các cổ đông lợi nhuận hữu hình thường xuyên khi họ đầu tư vào công ty.
Do vậy, công ty chi trả cổ tức cho các cổ đông như thế nào sẽ ảnh hưởng đến quan điểm của nhà đầu tư về công ty, dẫn đến sự biến động giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường. Thứ hai, chính sách cổ tức có ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của công ty. Thông qua việc quyết định chính sách cổ tức của công ty cũng quyết định luôn chính sách tài trợ. Chính sách cổ tức ảnh hưởng đến số lượng cổ phần thường trong cấu trúc vốn của công ty, mở rộng ra là ảnh hưởng đến chi phí vốn của công ty.
Khi công ty chi trả cổ tức càng nhiều thì công ty phải bù trừ lại nguồn lợi nhuận giữ lại ít bằng các nguồn tài trợ bên ngoài với thủ tục phức tạp và tốn chi phí hơn. Thứ ba, chính sách cổ tức cũng có liên hệ với chính sách đầu tư của công ty. Với nguồn tài trợ có chi phí vốn thấp từ lợi nhuận giữ lại sẽ giúp công ty linh hoạt hơn khi lựa chọn đầu tư vào các dự án có tỷ suất lợi nhuận cao. Như vậy, lợi nhuận giữ lại có thể kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai cũng như có thể gây ảnh hưởng đến giá trị cổ phần của công ty trong lai.
Cuối cùng, thông qua việc chi trả cổ tức còn thể hiện dấu hiệu thông tin về hiệu quả hoạt động của công ty ra ngoài thị trường đến các nhà đầu tư khác.2 Mục tiêu của chính sách cổ tức Mục tiêu hoạt động nói chung đối với tất cả các loại hình công ty là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền quản lý và quyền sở hữu, cổ phần của công ty có sự chuyển nhượng trên thị trường nên mục tiêu hoạt động của công ty cổ phần là tối đa hóa giá trị thị trường của công ty hay tối đa hóa giá cổ phiếu trên thị trường. 7 Quyết định chi trả cổ tức là một trong ba quyết định tài chính quan trọng trong công ty, nó tác động đến lợi nhuận hiện tại chia cho các cổ đông và lợi nhuận mong đợi trên phần vốn được bổ sung từ lợi nhuận tái đầu tư. Mục tiêu cuối cùng của chính sách cổ tức là tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông hiện hành, hay cụ thể hơn là tối đa hóa tỷ suất sinh lời trên vốn của nhà đầu tư.
Chính sách cổ tức tác động đến tỷ suất sinh lời trên vốn của nhà đầu tư dưới hai hình thức: - Gia tăng mức cổ tức thực tế được hưởng hàng năm. - Gia tăng khoản lãi vốn (phần chênh lệch giá cổ phiếu), để tăng được phần lãi vốn đòi hỏi công ty phải có những quyết định đầu tư mới có hiệu quả trong tương lai, thu hút các nhà đầu tư và dẫn đến giá thị trường cổ phiếu tăng cao. Để đạt được điều này, hội đồng quản trị đòi hỏi phải hoạch định chính sách cổ tức sao cho hợp lý cho từng giai đoạn nhất định, với chính sách này vừa phải đáp ứng vốn cho các cơ hội đầu tư hiệu quả, mặt khác đảm bảo sự ổn định và gia tăng cổ tức hàng năm cho các cổ đông.2 Các lý thuyết về chính sách cổ tức 1.1 Lý thuyết về chính sách cổ tức không liên quan (Dividend Irrelevance Theory) Năm 1961, hai nhà kinh tế học đã trình bày lý thuyết về chính sách cổ tức, nghiên cứu này có ảnh hưởng rất lớn đến các nghiên cứu về chính sách cổ tức tiếp theo sau. Tác giả thực hiện nhiên cứu trong bài viết “Mối quan hệ giữa chính sách cổ tức, tăng trưởng và xác định giá trị cổ phiếu”.
Bài viết đã cung cấp được một chuẩn mực, một cái nhìn và những quan điểm mới về chính sách cổ tức. Bài nghiên cứu của hai tác giả trên được giả định trong số các điều kiện như sau: Thị trường vốn là hoàn hảo, nên chính sách cổ tức độc lập với giá trị của công ty, vì vậy cho dù công ty có chi trả cổ tức hay không đều không ảnh hưởng đến giá trị công ty. Hay nói cách khác chính sách cổ tức không quan trọng với giá trị công ty cho dù công ty có chính sách cổ tức cao hay thấp. Modigliani và Miller đã đưa ra ba tiêu chí để xây dựng thị trường vốn là hoàn hảo.
Thị trường hoàn hảo: Trên thị trường không có một thế lực nào đủ mạnh để ảnh hưởng đến giá trị thị trường của mỗi chứng khoán. Vì 8 vậy, bất cứ ai cũng có thể tìm được thông tin của thị trường mà không gặp phải rào cản nào, nghĩa là không có bất kỳ ai có được lợi thế về thông tin của thị trường. Một giả định khác được tác giả đưa ra là trên thị trường không có chi phí giao dịch và thuế nên tất cả các nhà đầu tư tham gia trên thị trường đều bình đẳng như nhau. Hành vi của nhà đầu tư là hợp lý: Điều này được ngụ ý rằng tất cả các nhà đầu tư trên thị trường thích sự thành công hơn là giảm thiểu rủi ro.
Điều này được giải thích rằng sự lựa chọn của nhà đầu tư là nhận được từ sự gia tăng chênh lệch giá cổ phiếu hay nhận được từ cổ tức là không quan trọng. Thông tin trên thị trường là hoàn hảo và chắc chắn: Tất cả các nhà đầu tư có được thông tin trên thị trường là như nhau và họ cũng có đầy đủ thông tin để tiếp tục tham gia hoặc rút khỏi thị trường trong tương lai. Từ các giả định trên, tác giả đã kết luận chi trả cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị công ty. Nếu công ty thực hiện chi trả cổ tức thì khi cần nhu cầu vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, công ty phải phát hành thêm cổ phiếu mới.
Khi đã phát hành cổ phiếu mới thì giá cổ phiếu trên thị trường sẽ giảm đúng bằng tỷ lệ chi trả cổ tức, nên giá cổ phiếu sẽ giảm đúng bằng số cổ tức nhận được.2 Lý thuyết về chính sách cổ tức bằng tiền mặt cao (Bird-In-The-Hand) Các nhà đầu tư cho rằng công ty mà chi trả cổ tức cao thì ít rủi ro hơn các công ty thực hiện giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư nhằm gia tăng tiềm năng trong tương lai. Hơn nữa trong một thị trường không hoàn hảo về thông tin thì việc chi trả cổ tức cao càng kích thích nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu hơn là sử dụng chính sách lợi nhuận giữ lại. Chi trả cổ tức bằng tiền mặt cao cũng góp phần làm giảm sự thiếu chắc chắn về dòng tiền trong tương lai. Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền cao cũng làm giảm chi phí sử dụng vốn và từ đó giúp cho công ty gia tăng được giá trị cổ phiếu.
Từ những lập luận trên thì các nhà đầu tư sẽ đánh giá cao những công ty theo đuổi chính sách cổ tức cao để kích thích các nhà đầu tư mua cổ phiếu của những công ty này.3 Lý thuyết về tác động của tấm lá chắn thuế (Tax-Effect) Theo lý thuyết của MM thì được giả định là một thị trường hoàn hảo thì không có tác động của thuế và không có sự khác biệt giữa thuế, chính sách cổ tức và lợi nhuận giữ lại. Tuy nhiên trong thực tế trên thế giới cho thấy có sự tồn tại và có ảnh hưởng đáng kể về chính sách cổ tức và giá trị công ty. Thông thường có sự khác biệt giữa cách tính thuế và lợi nhuận giữ lại giữa các quốc gia khác nhau.