Chương 1 : Giới thiệu đề tài. Tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu, cũng như giới thiệu sơ lược bố cục luận văn. Chương 2 : Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty. 2 Cách tính các biến được trình bày tại Chương 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương này trình bày, tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu trên thế giới.
Từ đó, tác giả rút ra cơ sở lý luận cho nghiên cứu tại Việt Nam Chương 3 : Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu, cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu được trình bày cụ thể trong chương này. Chương 4 : Kiểm định sự ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty tại Việt Nam. Chương này trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu của tác giả, đồng thời so sánh từng kết quả thu được với bài nghiên cứu mà tác giả đã áp dụng.
Sau đó, tác giả tiến hành đối chiếu kết quả này với các nghiên cứu khác trên thế giới và nghiên cứu tại Việt Nam đã công bố năm 2010 để phân tích nguyên nhân khác biệt giữa hai giai đoạn nghiên cứu. Chương 5 : Kết luận. Chương này tóm tắt lại kết quả nghiên cứu và khẳng định vai trò của quản trị vốn luân chuyển trong tài chính danh nghiệp. Những điểm còn hạn chế của luận văn cũng được trình bày để làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận vấn đề quản trị vốn luân chuyển bằng nhiều cách: trong khi một số học giả nghiên cứu việc quản trị hàng tồn kho sao cho thích hợp hoặc tối ưu, thì một số học giả khác nghiên cứu việc quản trị khoản phải thu để đưa ra một chính sách tối ưu nhằm tối đa hóa khả năng sinh lời. Theo Deloof (2003), cách thức vốn luân chuyển được quản trị có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của các công ty. Vì quản trị vốn luân chuyển được mô tả tốt nhất bằng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Ioannis Lazaridis và Dimitrios Tryfonidis, 2006) nên các nghiên cứu trước đây đều cố gắng thiết lập mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Trong mục này, tác giả sẽ trình bày tóm tắt các nghiên cứu tại một số nước trên thế giới về ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty; bao gồm các nghiên cứu tại Hy Lạp, Tây Ban Nha, Việt Nam, Mỹ, Kenya, Pakistan, Ấn Độ và Iran theo trình tự thời gian từ quá khứ cho tới hiện tại, cụ thể như sau: Năm 2006, Ioannis Lazaridis và Dimitrios Tryfonidis trong bài “Relationship between working capital management and profitability of listed companies in the Athens stock exchange - Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens” đã sử dụng một mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001 – 2004.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại tương quan phủ định có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Đồng thời, khả năng sinh lời có tương quan khẳng định ở mức ý nghĩa cao với kỳ trả tiền bình quân, điều này có thể dẫn đến kết luận rằng các công ty lợi dụng thời hạn tín dụng của các nhà cung cấp càng lâu thì khả năng sinh lời càng cao. Ngoài ra, mối tương quan phủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 định có ý nghĩa giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời cho thấy các công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn càng lâu thì khả năng sinh lời càng thấp. Tương tự như vậy mối tương quan phủ định có ý nghĩa giữa kỳ luân chuyển hàng tồn kho và khả năng sinh lời cho thấy trong trường hợp doanh số giảm đột ngột đi kèm với sự yếu kém trong quản lý hàng tồn kho sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, giảm khả năng sinh lời.
Cuối cùng, các tác giả nhận định các nhà quản lý có thể tạo ra lợi nhuận cho công ty bằng cách xử lý đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và giữ mỗi thành phần đến một mức tối ưu. Năm 2007, Pedro Juan Garcia-Teruel và Pedro Martinez-Solano thực hiện nghiên cứu “Effects of working capital management on SME profitability - Tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các công ty vừa và nhỏ” ở thị trường Tây Ban Nha. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời công ty vừa và nhỏ. Hầu hết tài sản của công ty vừa và nhỏ là các loại tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là nguồn tài chính bên ngoài quan trọng.
Trong thực tế mẫu quan sát gồm 8.872 công ty vừa và nhỏ với số liệu giai đoạn 1996-2002 thì tài sản ngắn hạn chiếm 69,48% tổng tài sản, nợ ngắn hạn chiếm 52,82% nợ phải trả. Các tác giả tìm thấy mối tương quan phủ định có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ trả tiền bình quân. Điều này chứng minh rằng các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho cổ đông bằng cách giảm thời gian thu tiền khách hàng và mức dự trữ hàng tồn kho. Cuối cùng, các tác giả kết luận công ty vừa và nhỏ cần phải quan tâm đến việc quản trị vốn luân chuyển, vì họ cũng có thể tạo ra giá trị công ty bằng cách giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ở mức tối thiểu hợp lý.
Tiên phong trong nghiên cứu doanh nghiệp niêm yết trên thị thường chứng khoán Việt Nam, năm 2010, tác giả Huỳnh Phương Đông và Jyh-tay Su trong bài “The relationship between working capital management and profitability: a Vietnam case - Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời: trường hợp tại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Việt Nam” đã sử dụng một mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn năm 2006 – 2008. Nghiên cứu phát hiện quan hệ phủ định có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt; có nghĩa là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn thì khả năng sinh lời thấp hơn. Vì vậy, các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt trong một phạm vi hợp lý. Kết quả từ phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam cũng phát hiện tương quan phủ định có ý nghĩa cao giữa kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và khả năng sinh lời.
Vì vậy, tác giả cho rằng các nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lời bằng cách giảm số ngày thu tiền và dự trữ hàng tồn kho. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các công ty có khả năng sinh lời càng cao thì càng trì hoãn việc thanh toán các khoản nợ của họ. Cuối cùng, nhà quản trị phải tạo ra giá trị thực cho cổ đông bằng cách công bố đầy đủ chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và duy trì các thành phần của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ở mức tối ưu. Khi nghiên cứu tại thị trường Mỹ, năm 2010, nhóm tác giả Amarjit Gill, Nahum Biger và Neil Mathur trong bài “The relationship between working capital management and profitability: Evidence from the United States - Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển với khả năng sinh lời khi khảo sát các công ty niêm yết tại Mỹ” đã tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời; theo đó, nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lời cho công ty bằng việc xử lý một cách đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khoản phải thu ở mức tối ưu.
Mẫu nghiên cứu gồm 88 công ty sản xuất thuộc 5 lĩnh vực khác nhau: thiết bị y tế, công nghiệp, hóa chất, năng lượng và lương thực. Các công ty này đều được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán New York; thời gian nghiên cứu là 3 năm, giai đoạn 2005- 2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có tương quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian thanh toán nợ và khả năng sinh lời. Đặc biệt, trái ngược với các quan điểm truyền thống và các nghiên cứu khác về mối tương quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 phủ định, nghiên cứu này phát hiện mối tương quan khẳng định giữa chu kì chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời.
Nhóm tác giả còn đưa ra đề nghị các công ty phải duy trì một số dư tiền mặt hợp lý để đảm bảo cho nhu cầu thanh toán vì các quyết định về tín dụng thương mại, sản xuất và tiền mặt có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc quản trị vốn luân chuyển. Những phát hiện của nghiên cứu này khuyến nghị rằng các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông của họ bằng việc giảm số ngày thu tiền khách hàng. Ngoài ra mối tương quan phủ định giữa các khoản phải thu khách hàng và khả năng sinh lời của công ty cũng cho rằng các công ty có khả năng sinh lời thấp sẽ theo đuổi việc giảm tài khoản phải thu khách hàng trong nỗ lực giảm khoảng cách trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của họ. Cuối cùng, nhóm tác giả cũng khẳng định rằng lợi nhuận có thể tăng thêm nếu công ty quản trị vốn luân chuyển hiệu quả hơn.
Cũng trong năm 2010, David M. Mathuva trong bài “The Influence of Working Capital Management Components on Corporate Profitability: A Survey on Kenya Listed Firms - Ảnh hưởng của các thành phần quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của công ty: Khảo sát trên các công ty niêm yết ở Kenya” đã xem xét sự ảnh hưởng của việc quản trị từng thành phần vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lời của công ty.