Đặt vấn đề Đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.) là một loại cây rau nhiệt đới và cận nhiệt đới quan trọng đƣợc trồng để lấy lá tƣơi, chồi, hoa, vỏ, thân và hạt. Quả tƣơi có thể đƣợc ăn nhƣ rau dƣới dạng salad, trong súp và món hầm hoặc luộc. Quả đậu bắp chứa chất nhầy khi nấu. Chất nhầy có tầm quan trọng về mặt y tế vì nó đƣợc sử dụng nhƣ một chất thay thế huyết tƣơng hoặc chất làm giãn thể tích máu và giảm cholesterol và giúp thải độc cho gan (Gemede và cs.
Quả đậu bắp chứa chất xơ, vitamin C, folate và chất chống oxy hóa (Adekiya và cs. Hạt chứa dầu ăn đƣợc cho con ngƣời cũng nhƣ trong công nghiệp xà phòng (Oyolu và cs. Hiện nay, ở Việt Nam có một số vùng trồng nhiều đậu bắp nhƣ Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh,… diện tích trồng đậu bắp đang đƣợc mở rộng với các giống nổi bật nhƣ: VN1, D9B1, TN75… và các giống nhập từ nƣớc ngoài nhƣ: Jubilee 047, lionseed của Ấn Độ. Đặc biệt là giống đậu bắp xanh F1 Ấn Độ đƣợc nhiều hộ nông dân chọn trồng vì năng suất cao.
Đây là giống có nhiều ƣu điểm vƣợt trội so với các giống đậu bắp lai nhập ngoại đang đƣợc gieo trồng tại nƣớc ta, thích nghi với nhiều vùng đất, khí hậu, chất lƣợng tốt hơn, ăn ngon hơn nên giá bán cao hơn. Trong những năm tới, việc sử dụng phân hữu cơ để đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của cây trồng sẽ là một thực tiễn không thể tránh khỏi để phát triển nền nông nghiệp bền vững, điều này là do, các đặc tính vật lý, hóa học và sinh học của đất nói chung đƣợc cải thiện bằng cách bổ sung phân hữu cơ, nhờ đó mà tăng cƣờng năng suất cây trồng và duy trì chất lƣợng cây trồng (Maheswarappa và cs. Mặc dù, so với phân bón vô cơ, phân hữu cơ chứa một lƣợng nhỏ chất dinh dƣỡng thực vật hơn. Trong phân hữu cơ có chứa các thành phần dinh dƣỡng khoáng và chất lƣợng khác nhau, do đó chúng có thể tác dụng khác nhau khi bón vào đất liên quan đến các đặc tính hóa học của đất, năng suất và chất lƣợng cây trồng.
1 Đối với cây rau nói chung và đậu bắp nói riêng, nguồn dinh dƣỡng cung cấp từ đất không đáng kể so với yêu cầu của cây nên phải bổ sung phần lớn qua phân bón. Việc sử dụng nhiều phân bón hóa học và thuốc BVTV làm đất bị suy thoái nghiêm trọng và ảnh hƣởng đến tính chất của đất nhƣ bị mất cấu trúc, khả năng giữ nƣớc giảm, tăng gây ô nhiễm môi trƣờng,…. Nhằm cải thiện tình trạng trên, ngƣời dân đã thực hiện trồng rau theo phƣơng pháp hữu cơ, sử dụng phân chuồng ủ hoai thay thế cho phân hoá học để bón cho cây trồng để cải tạo tính chất đất, cung cấp dinh dƣỡng cho cây …. Oladipo và cs.
(2005) đã chỉ ra rằng cần duy trì chất hữu cơ cho đất (OM) đó là nguyên tắc cơ bản của sản xuất cây trồng ở Nigeria cũng nhƣ ở các nƣớc nhiệt đới. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu về việc thay thế liều lƣợng hoá học bằng phân chuồng cho cây đậu bắp để vừa giúp cho cây sinh trƣởng, phát triển tốt cho năng suất cao vừa bảo vệ môi trƣờng, tạo sản phẩm an toàn chất lƣợng caoXuất phát từ những vấn đề nêu trên, để có cơ sở để sản xuất cây đậu bắp theo nguyên tắc hữu cơ góp phần tạo sản phẩm rau quả sạch và bảo vệ môi trƣờng sinh thái, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Ảnh hƣởng của phân hữu cơ và vô cơ đến sinh trƣởng, năng suất và chất lƣợng của cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus (L) Moench )’’. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Xác định ảnh hƣởng của phân hữu cơ và vô cơ thích hợp cho sự sinh trƣởng, năng suất và chất lƣợng của cây đậu bắp.
Từ đó, lựa chọn đƣợc liều lƣợng phân hữu cơ và vô cơ thích hợp cho cây đậu bắp. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân hữu cơ và vô cơ đến các chỉ tiêu sinh trƣởng, phát triển của cây đậu bắp. - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân hữu cơ và vô cơ đến năng suất. 2 - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân hữu cơ và vô cơ đến các chỉ tiêu chất lƣợng của cây đậu bắp - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng phân hữu cơ và vô cơ ảnh hƣởng đến mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu sâu bệnh của cây đậu bắp.
3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm về nông nghiệp hữu cơ Theo Phạm Tiến Dũng và cộng sự, 2016 dựa trên một số tác giả và tổ chức trên thế giới, đã khái niệm Nông nghiệp hữu cơ nhƣ sau: Nông nghiệp hữu cơ hay còn gọi canh tác hữu cơ là một hệ thống nông nghiệp luân canh có nguồn gốc từ thế kỷ XX ra đời trong sự thay đổi nhanh chóng các hệ thống canh tác trên thế giới. Nông nghiệp hữu cơ liên tục đƣợc phát triển bởi tổ chức Nông nghiệp hữu cơ khác nhau cho đến ngày hôm nay. Canh tác này chủ yếu dựa vào phân bón có nguồn gốc hữu cơ nhƣ phân từ gia súc gia cầm, phân xanh, phân trộn, bột xƣơng … tăng độ phì cho đất bằng nhóm cây trồng có tác dụng cải tạo đất.
Nhấn mạnh vào các kỹ thuật luân canh giống cây trồng, kiểm soát dịch hại sinh học, sử dụng xen canh cây trồng khắc chế dịch hại hoặc khuyến khích sự tồn tại động vật là thiên địch của dịch hại (Phạm Tiến Dũng và cs. Theo USDA, nông nghiệp hữu cơ đƣợc định nghĩa là “Một hệ thống quản lý sinh thái thúc đẩy và tăng cƣờng đa dạng sinh học, chu trình sinh học và các hoạt động sinh học đất. Nó hạn chế tối đa việc sử dụng đầu vào ngoài trang trại và dựa trên những kĩ thuật quản lý nhằm phục hồi, duy trì và tăng cƣờng sự hài hòa của hệ sinh thái. Mục tiêu ban đầu của nông nghiệp hữ cơ là tối ƣu sức khỏe và sức sản xuất của một cộng đồng tƣơng hỗ lẫn nhau bao gồm đất, cây trồng, vật nuôi và con ngƣời”.
Nông nghiệp hữu cơ còn có thể đƣợc định nghĩa: "Là một hệ thống kỹ thuật nuôi trồng kết hợp hƣớng đến sự bền vững, tăng cƣờng độ phì của đất và sự đa dạng sinh học. Nông nghiệp hữu cơ cấm sử dụng thuốc trừ sâu bệnh tổng hợp, thuốc kháng sinh, phân bón tổng hợp, sinh vật biến đổi gen, hoóc-môn tăng trƣởng. mà phấn đấu cho sự bền vững, tăng cƣờng độ phì của đất và sự đa dạng sinh học trong khi, với những ngoại lệ hiếm hoi, cấm thuốc trừ sâu tổng hợp, 4 thuốc kháng sinh, phân bón tổng hợp, sinh vật biến đổi gen, và hormone tăng trƣởng” (Danielle Treadwell, H. Martin, Dale Rhoads).
Liên Hiệp Quốc định nghĩa nhƣ sau: Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, đảm bảo sức khỏe cho con ngƣời và vật nuôi. Nông nghiệp hữu cơ dựa trên cơ sở sử dụng tối thiểu các đầu tƣ bên ngoài nhằm làm giảm ô nhiễm từ không khí, đất và nƣớc, chống sử dụng các chất tổng hợp nhƣ phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu hóa học. Những ngƣời sản xuất, chế biến và lƣu thông các sản phẩm hữu cơ gắn bó với các tiêu chuẩn, chuẩn mực của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Mục đích chính của nông nghiệp hữu cơ là tối ƣu hóa tính bền vững và sức sản xuất và các hệ thống với quan hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau nhƣ đất trồng trọt, cây trồng, động vật và con ngƣời (Codex Alimentarius, FAO/WTO, 2001).
(1999) trong cuốn Organic cho rằng các đặc trƣng chủ yếu của nông nghiệp hữu cơ là: Sử dụng một cách tối đa và bền vững nguồn tài nguyên của địa phƣơng; Sử dụng tối thiểu nguồn đầu vào cần mua, chỉ khi cần bổ sung cho nguồn tài nguyên địa phƣơng; Đảm bảo các chức năng sinh học cơ bản của thực vật đối với đất – nƣớc – dinh dƣỡng – mùn; Duy trì tính đa dạng các loài động thực vật nhƣ cơ sở cho sự cân bằng sinh thái và bền vững kinh tế; Tạo ra tính hấp dẫn cho toàn bộ khu vực mà có thể thỏa mãn cho nhu cầu của dân địa phƣơng; Tăng độ đa dạng cây trồng vật nuôi dƣới hình thức các hệ thống đa canh, nông lâm kết hợp, hệ thống cây trồng vật nuôi hỗn hợp để giảm rủi ro. Nhƣ vậy, nông nghiệp hữu cơ gắn chặt với sự phát triển đa dạng bền vững, không sử dụng đầu vào hóa học và cả những sản phẩm biến đổi gen. Nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ Những nguyên tắc cơ bản trong nông nghiệp hữu cơ đƣợc trình bày vào năm 1992 bởi Tổ chức Nông nghiệp hữu cơ quốc tế (IFOAM) là: 5 - Sản xuất thực phẩm có chất lƣợng dinh dƣỡng cao, đủ số lƣợng. - Phối hợp một cách xây dựng và theo hƣớng củng cố cuộc sống giữa tất cả các chu kỳ và hệ thống tự nhiên.
- Khuyến khích và thúc đẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác, bao gồm vi sinh vật, quần thể động thực vật trong đất, cây trồng và vật nuôi. - Duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất trồng về mặt dài hạn. - Sử dụng càng nhiều các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có tổ chức ở địa phƣơng càng tốt. - Làm việc càng nhiều trong một hệ thống khép kín đối với các yếu tố dinh dƣỡng và hữu cơ càng tốt.
- Làm việc càng nhiều càng tốt đối với các nguyên vật liệu, các chất có thể tái sử dụng hoặc tái sinh hoặc ở trong trang trại hoặc là ở nơi khác. - Cung cấp cho tất cả các con vật nuôi trong trang trại những điều kiện cho phép chúng thực hiện các bản năng bẩm sinh của chúng. - Giảm đến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp gây ra. - Duy trì sự đa dạng hóa gen trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ và khu vực xung quanh nó, bao gồm cả việc bảo vệ thực vật và nơi cƣ ngụ của cuộc sống thiên nhiên hoang dã.
- Cho phép ngƣời sản xuất nông nghiệp có một cuộc sống theo Công ƣớc nhân quyền của Liên Hợp quốc, trang trải đƣợc những nhu cầu cơ bản của họ, có đƣợc một khoản thu nhập thích đáng và sự hài lòng từ công việc của họ, bao gồm cả môi trƣờng làm việc an toàn. - Quan tâm đến tác động sinh thái và xã hội rộng hơn của hệ thống canh tác hữu cơ (Phạm Tiến Dũng và cs, 2016).