Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Đặc điểm thực vat học cây đậu phộng 1.1 Rễ Ré của cây đậu phộng bao gồm rễ cái, rễ nhánh và rễ con.Rễ cái là do rễ mầm của hạt lớn lên tạo thành, rễ cái phát triển rất nhanh có thê đạt chiều dài 0,5-4.0 em trong vòng bốn ngày, trong quá trình sinh trưởng và phát triển rễ cái có thể ăn sâu xuống mặt đất 1-1,3 m. Rễ phụ xuất hiện sau ngày thứ hai, và có thé đạt đến số lượng 100 rễ phụ trong năm ngày (Yarbrough, 1949).Hễ rễ phụ bao gồm rễ nhánh và rễ con, tập trung phan lớn ở gần mặt dat trong phạm vi 5-35cm (Narasinga Rao, 1936), chiếm 60-80% tổng trọng lượng, bán kính giới hạn trong phạm vi 12-14 cm. Rễ bên xuất hiện khoảng ba ngày sau khi nảy mầm (Greogory và cs 1973). Trên rễ cây đậu phộng có nhiều nét san, vi khuẩn Rhizobium trong nốt san tổng hợp N từ khí trời thành N hữu dụng cho cây, đây là nguồn đạm đặc biệt tốt cho đất và cây trồng, là sản phẩm an toàn cho người và môi trường sinh thái (Nguyễn Bảo Vệ và Tran Thị Kim Ba, 2005).
Nốt san hữu hiệu phân bố chủ yếu trên rễ chính và rễ ngang. Theo Phạm Văn Thiéu (2002) nét san đậu phong tăng nhanh về số lượng từ khi cây 6-7 lá đến lúc hoa nở, lúc ra hoa là lúc số lượng nốt san đạt đỉnh điểm về khối lượng cũng như kích thước, sau ra hoa số lượng cũng như kích thước và việc có định N của nốt san sẽ giảm dan cho đến khi thu hoạch (Nguyễn Bảo Vệ, 2011).2 Thân Cây đậu phộng khi còn non thân hình tròn, khi già thì thân rỗng ruột và có cạnh. Thân cây đậu phộng có ba dạng là: thân đứng, thân bò, thân trung gian. Chiều cao của thân cây đậu phộng thay đồi thuy theo giống và kỹ thuật canh tác.
Thân cây đậu phộng có chiều cao dao động từ 12-65 cm (Ramanatha Rao, 1988). Dựa vào kiểu phân nhánh mà đậu phộng được chia thành hai nhóm va được đặt tên là: phân nhánh luôn phiên và phân nhánh tuần tự (Bunting, 1955). Cây đậu phộng thông thường có 4-6 cành cấp 1.3 Lá Lá đậu phộng là lá kép lông chim, thông thường đậu phộng có 2 cặp lá chet. Tuy nhiên trong một số trường hợp thì có những lá biến thái có 1, 2, 3, 5, 6 hoặc 8 lá chét.
Lá cây đậu phộng có hình trứng xếp lộn ngược, hình thuẫn, hình tròn. Lá có màu xanh lục, lục nhạt, lục đậm, lục vàng. Màu sắc lá phụ thuộc vào giống hoặc điều kiện trồng trọt, ngoài ra thì độ ầm đất, độ thông thoáng và loại đất cũng ảnh hưởng đến màu sắc lá.4 Hoa và thư đài Hoa của cây đậu phộng có màu vàng, gồm 5 bộ phận: Lá bắc, đài hoa, tràng hoa, nhị đực, nhuy cái. Hoa đậu phộng thường phát triển thành chùm 2-7 hoa, đôi khi có những chùm gồm 15 hoa.
Hoa có cau tạo điển hình của họ Cánh Bướm. Các hoa mọc ở thân chính ra hoa nhiều trong khoảng 5 đến 11 tuần sau khi trồng và có tỷ lệ thụ phấn và đậu quả cao nhất ở những hoa nở đầu tiên. Thư đài sau khi thụ phấn mọc dai ra và chui xuống đất trong thời gian 8 — 12 ngày. Thư đài có thé chui vào dat từ 1 — 7 cm, nhưng thông thường khi xâm nhập vào đất được 1 -1,5 em, thư đài bat đầu quay ngang và hình thành quả non.
Chiều dai thư đài dao động 2 — 15 cm, những thư đài có chiều dài trên 7 cm thường khó có thé xâm nhập vào đất (KJ Boote, 1982), những thư không thể tiếp xúc với đất thường héo rụi, nhưng đôi khi có thé hình thành quả trên mặt dat lúc đó trái sẽ không hình thành hạt, nếu có thì hạt nhỏ, lép (Nguyễn Bảo Vệ, 2011).5 Quả và hạt Qua, hay vỏ quả là một lá noãn hình thoi biến đổi thành. Quả đậu phộng có hình kén, dai 1-8cm, rộng 0,5-2cm. Một đầu đính với tia, một đầu là mỏ quả. Các giống cây đậu phộng khác nhau thì có các tỷ lệ tia quả bám trên đất khác nhau (Seshadri, 1962; Singh và cs.
Vỏ quả đậu phộng thường chứa từ 2-4 hạt, giữa các hạt thì vỏ quả có eo để ngăn cách giữ hai hạt. Tuy nhiên thì cũng có những quả có 5,6 hạt được ghi nhận. Qua có | hạt cũng được xác định là tao ra khi tat cả các noãn ngoại trừ một noãn thụ tinh còn lại không thụ tinh (Smartt, 1976). Tuy thuộc vào giống mà eo quả sâu hay nông.
Vỏ quả có trước sau đó hạt mới hình thành. Hat đậu phộng có hình dang tròn, bầu dục. Hạt đậu phộng gồm có vỏ lụa, lá mam và mộng. Vỏ lụa mỏng bao ngoài, màu sắc của hạt thì đa dạng: vàng pha, đỏ nhạt, trắng nhạt, đỏ tía, đỏ nâu.
Màu sắc của vỏ hạt cũng chịu ảnh hưởng của giống và thời gian cất giữ.2 Điều kiện ngoại cảnh của cây đậu phộng 1.1 Nhiệt độ Cây đậu phộng thích hợp trồng ở điều kiện nhiệt độ dao động 25 — 35oC. Cây kém phát triển và cho năng suất thấp khi trời quá lạnh. Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng, cây thích hợp với một chế độ nhiệt khác nhau. Giai đoạn nảy mam thích hợp nhiệt độ 30 — 32°C.
Thời kỳ cây con cần nhiệt độ trung bình từ 25 — 30°C. Thời kỳ ra hoa nhiệt độ tôi thích cho sự phân hoá mam hoa 25 — 35°C. Vào giai đoạn trái chín, nhiệt độ yêu cầu 25 — 28°C.2 Anh sang Cây đậu phộng không đòi hỏi nghiêm ngặt về chế độ ánh sáng, cường độ ánh sáng thấp cây vẫn phát triển được, cây đậu phộng ra hoa không phụ thuộc vào thời gian ngày ngắn hay dai.3 Nước Nước là một trong những yếu tố quan trọng khi canh tác cây trồng, trên cây đậu phộng đòi hỏi phải đủ nước xuyên suốt quá trình sinh trưởng. Lượng nước cung cấp cho cây phải được đảm bảo đầy đủ không dé cây quá khô và cũng không dé cây qua ting, tuy nhiên khi thu hoạch cần phải dé cây được khô ráo dé trái được sạch sẽ, màu vỏ đẹp va không bị nam mốc.4 Dat Dat trồng đậu yêu cầu phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước nhanh dé thu dai dé dàng đâm vào và hình thành quả.
Dat có pH 5 — 7 là tốt nhất. pH quá thấp sẽ không thích hợp dé trồng đậu phộng vi pH thấp sẽ làm nam bệnh phát triển mạnh, vi khuan Rhizobium trong nốt san không tổng hợp được dam của khí trời.3 Cau trúc Paclobutrazol và cơ chế tac động 1.1 Cau trúc Paclobutrazol Paclobutrazol [(2RS, 3RS)-1-(4-chlorophenyl)-4, 4-dimethyl-2-(1H-1, 2, 4- trizol-1-y])-pentan-3-ol] có công thức tổng quát C16H20CIN3O là một chất điều hoa sinh trưởng thuộc nhóm Triazole. Công thức cau tạo được trình bày ở Hình 2.1 Cấu trúc hoá học của Paclobutrazol 1.2 Cơ chế tác động củaPaclobutrazol Paclobotrazol ảnh hưởng đến con đường isoprenoid và thay đổi trang thái của phytohormone bằng cách ức chế tổng hợp gibberellin làm chậm sự tăng trưởng của cây, giảm sản xuất ethylene, và tăng thêm cytokinin và ABA (theo Kamountsis và Sereli, 1999). Paclobutrazol cũng được xác định có tác dụng làm tăng sắc tố quang hợp của thực vật (ứng dụng Paclobutrazol đã được quan sát đề tỷ lệ quang hợp, kéo dài tuổi thọ của lá và tăng vùng vỏ xanh mù tat (Zhou và Xi, 1993).
Bên cạnh đó thì Paclobutrazol cũng được xác định gây ra các hoạt động chống oxy hoá trên cây trồng, giảm quá trình peroxy hoa lipid. Paclobutrazol là chat ức chế sinh trưởng tac dụng chuyên cây từ giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực nên sử dụng vào thời điểm khi cây bắt đầu ra hoa để giúp cây ra hoa nhiều hơn cũng như hạn chế sự phát triển chiều cao của cây, ngoai ra còn có thê nâng cao sức đê kháng cua cây.4 Tình hình nghiên cứu Paclobutrazol trên cây đậu phộng trong và ngoài nước 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Sachiko Senoo và Akihiro Isoda vào năm 2003 đã tiến hành thí nghiệm với 4 mức nông độ Paclobutrazol (0 ppm, 100 ppm, 200 ppm, 400 ppm) trên cây đậu phộng tại đại học Chiba đã cho thấy chiều cao của cây đậu phộng sử lý paclobutrazol thấp hơn từ 5 đến 10 em. Số quả luôn cao hơn khi xử lý ở 100ppm và 200 ppm trong bắt kỳ giai đoạn nào của cây, cũng như năng suất được tăng lên khi xử lý Paclobutrazol ở 100 ppm và 200 ppm. Cùng vào năm 2003 Sachiko Senoo và Akihiro Isoda cũng đã tiến hành thí nghiệm dé kiểm chứng sự ảnh hưởng của Paclobutrazol lên trên vỏ trái và đặc điểm quang hợp của cây đậu phộng kết quả đã cho thấy được việc ứng dụng của Paclobutrazol khi bắt đầu giai đoạn hình thành vỏ quả đã làm tăng tỷ lệ vỏ quả, đặc biệt ở những bông hoa nở sớm do việc ứng dụng Paclobutrazol ở giai đoạn đầu làm tăng hàm lượng điệp lục dan đến tăng tốc độ đồng hoá CO2¿.
Puste và Srijita Paul vào giai đoạn 2013 - 2014 cũng thực hiện nghiên cứu tác động của Paclobutrazol đối với năng suất. Thí nghiệm khảo sát 6 mức nồng độ, thời gia phun một lần vào 30 ngày sau trồng, phun một lần vào 50 ngày sau trồng và phun kép ở 30 và 50 ngày sau trồng. Kết quả cho thấy có phản ứng tích cực làm giảm chiều cao cây trong các giai đoạn sinh trưởng, trọng lượng khô của vỏ quả tăng lên đến 32% với sự gia tăng nồng độ Paclobutrazol và tăng 28% theo thời gian phun so với đối chứng và phun một lần. Ở nồng độ 250 ppm việc phun kép đã làm tăng năng suất hat, chỉ số thu hoạch, ty lệ dầu.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Nguyễn Cao Nguyên (2009), cho biết việc xử lý Paclobutrazol lên cây đậu phộng ở nông độ 400 ppm vào thời điểm 50 ngày sau gieo đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với không sử dụng trên giống đậu phộng lỳ tại Củ Chi.
Theo Trần Thanh Dũng đã tiến hành nghiên cứu chế phẩm có chứa 10% Paclobutrazol trên đậu phộng tại xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam trồng vụ Đông Xuân 2019 — 2020 với 04 mật độ: 26,7 vạn cây; 33,3 vạn cây; 40,0 vạn cây; 50,0 vạn cây. Kết quả đã cho thay khi tiễn hành xử lý Paclobutrazol với mật độ 40,0 vạn cây và 350,0 vạn cây cho hiệu quả kinh tế cao nhất với năng suất thực thu lần ;lượt là 40,7 tạ/ha và 49,8 tạ/ha.