Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu phộng (Arachis hypogaea L.) là một trong những loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế, thực phẩm và cải tạo đất quan trọng trong hệ thống luân canh nông nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong sản xuất vụ Hè Thu tại khu vực Đông Nam Bộ, điều kiện thời tiết mưa nhiều kèm theo nhiệt độ và ẩm độ cao thường kích thích cây sinh trưởng sinh dưỡng quá mức, làm thân cây phát triển vóng cao, tán lá rậm rạp và rất dễ bị đổ lợp. Tình trạng này làm giảm khả năng quang hợp hữu hiệu, cản trở quá trình đâm tia quả của thư đài vào đất và tạo môi trường thuận lợi cho nấm bệnh phát sinh, từ đó làm suy giảm nghiêm trọng năng suất và chất lượng quả thu hoạch.

Bên cạnh yếu tố thời tiết, đất xám bạc màu tại địa bàn tỉnh Bình Dương có đặc tính nghèo dinh dưỡng, tỷ lệ cát cao, khả năng giữ nước và giữ phân kém, độ chua nhẹ. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác như chọn giống, cân đối phân bón kết hợp với chất điều hòa sinh trưởng nhằm kiểm soát chiều cao thân chính, rút ngắn chiều dài lóng, hạ thấp vị trí đâm tia quả và tăng tích lũy chất khô là hướng tiếp cận có ý nghĩa thực tiễn. Paclobutrazol là hoạt chất ức chế sinh trưởng thuộc nhóm Triazole, có khả năng ức chế sinh tổng hợp gibberellin, làm chậm sự kéo dài tế bào, tăng hàm lượng diệp lục tố và thúc đẩy quá trình sinh trưởng sinh thực. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết bài toán kiểm soát hình thái và tối ưu hóa năng suất đậu phộng trong vụ Hè Thu trên nền đất xám bạc màu.

Mục tiêu và các yêu cầu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Xác định được nồng độ và số lần phun Paclobutrazol thích hợp cho sự sinh trưởng, khả năng cho năng suất và hiệu quả kinh tế của cây đậu phộng (Arachis hypogaea L.) trồng trên nền đất xám bạc màu vụ Hè Thu tại xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
  • Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:
    1. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng và thực hiện quy trình trồng, chăm sóc và phun Paclobutrazol đảm bảo đúng nồng độ yêu cầu.
    2. Theo dõi và so sánh các chỉ tiêu về sinh trưởng, năng suất của giống đậu phộng trong thí nghiệm.
    3. Thu thập, tổng hợp, xử lý thống kê và đánh giá ảnh hưởng của nồng độ tới sinh trưởng và năng suất của cây đậu phộng.

Đối tượng nghiên cứu là giống đậu phộng Giấy được xử lý bằng chất điều hòa sinh trưởng Paclobutrazol (chế phẩm thương mại Brightstar 25SC, hàm lượng hoạt chất 250 g/L). Phạm vi nghiên cứu về không gian được thực hiện trên đất xám bạc màu tại xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; phạm vi thời gian diễn ra trong vụ Hè Thu từ tháng 5/2022 đến tháng 9/2022 (thời gian trên đồng ruộng từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 8/2022, thu hoạch tại thời điểm 92 ngày sau gieo); nội dung theo dõi giới hạn ở hai nhóm chỉ tiêu sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về sinh lý thực vật học của cây bộ Đậu (Fabaceae) và cơ chế tác động của nhóm chất ức chế sinh trưởng thực vật. Cây đậu phộng có đặc điểm nở hoa trên cành, sau khi thụ phấn hoa hình thành thư đài (tia quả) kéo dài đâm xuống mặt đất từ 1 đến 1,5 cm rồi chuyển hướng sinh trưởng nằm ngang để hình thành quả non. Chiều dài lóng thân và chiều dài thư đài có vai trò then chốt; nếu thư đài quá dài (trên 7 cm) hoặc tán cây vươn quá cao cách xa mặt đất thì thư đài khó tiếp xúc với tầng đất mặt, dễ bị khô héo hoặc cho quả lép. Về cơ chế sinh hóa, Paclobutrazol [(2RS, 3RS)-1-(4-chlorophenyl)-4,4-dimethyl-2-(1H-1,2,4-triazol-1-yl)-pentan-3-ol, công thức C16H20ClN3O] tác động vào con đường isoprenoid, ức chế quá trình tổng hợp gibberellin dẫn đến việc hạn chế giãn nở tế bào, giảm sinh sản ethylene, đồng thời thúc đẩy gia tăng hàm lượng cytokinin, axit abscisic (ABA) và tăng cường tổng hợp diệp lục tố.

Vật liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Giống đậu phộng: Giống Giấy có các đặc tính nông học: vỏ mỏng, hạt chắc, trái sai, hàm lượng dầu 47%, tỷ lệ hạt/quả đạt khoảng 78%, năng suất bình quân 2,7 tấn/ha.
  • Hóa chất xử lý: Chế phẩm Brightstar 25SC (Paclobutrazol 250 g/L) do Công ty Hợp Trí sản xuất.
  • Phân bón và hóa chất canh tác: Phân bò ủ hoai (5.000 kg/ha); Urea Phú Mỹ 46,3% N (87 kg/ha); Supe lân Lâm Thao 16% P2O5, 11% S (562,5 kg/ha); Phân kali KCl 60% K2O (100 kg/ha); Vôi bột 51% CaO, 1,8% MgO, 0,7% SiO2 (549 kg/ha).
  • Thuốc bảo vệ thực vật: Hoạt chất Abamectin (Reasgant 3.6EC), Lambda-cyhalothrin (Karate 2.5EC) phòng trừ sâu hại; thuốc gốc đồng COC 85WP phòng trừ nấm bệnh.

Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 6 nghiệm thức, lặp lại 3 lần (tổng số 18 ô cơ sở). Mỗi ô cơ sở có kích thước 4 m x 2,25 m (diện tích 9 m²), khoảng cách gieo hàng cách hàng 25 cm, cây cách cây 20 cm, gieo 2 hạt/hốc. Tổng diện tích khu thí nghiệm là 250 m² bao gồm cả dải phân cách và hàng bảo vệ. Lượng nước phun được chuẩn hóa ở mức 400 L/ha, tiến hành phun ướt đều tán lá vào sáng sớm.

Chi tiết 6 nghiệm thức thí nghiệm:

  • NT1 (ĐC): Đối chứng không xử lý hóa chất (0 ppm).
  • NT2: Phun Brightstar 25SC liều lượng 0,75 ml/L (tương đương 187,5 ppm Paclobutrazol), phun 1 lần vào thời điểm 20 ngày sau gieo (NSG).
  • NT3: Phun Brightstar 25SC liều lượng 0,75 ml/L (187,5 ppm), phun 2 lần vào thời điểm 20 NSG và 35 NSG.
  • NT4: Phun Brightstar 25SC liều lượng 1,00 ml/L (tương đương 250 ppm Paclobutrazol), phun 1 lần vào thời điểm 20 NSG.
  • NT5: Phun Brightstar 25SC liều lượng 1,00 ml/L (250 ppm), phun 2 lần vào thời điểm 20 NSG và 35 NSG.
  • NT6: Phun Brightstar 25SC liều lượng 1,25 ml/L (tương đương 312,5 ppm Paclobutrazol), phun 1 lần vào thời điểm 20 NSG.

Phương pháp thu thập và quy chuẩn áp dụng: Quy trình canh tác và theo dõi các chỉ tiêu nông học tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-57 : 2011/BNNPTNT về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lạc. Phương pháp điều tra sâu bệnh hại (sâu khoang Spodoptera litura, sâu xanh da láng Spodoptera exigua, bệnh đốm nâu Cercospora arachidicola, bệnh đốm đen Phaeoisariopsis personata, bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis) thực hiện theo Quy chuẩn QCVN 01-168 : 2014/BNNPTNT. Đo chỉ số diệp lục tố SPAD trên lá bánh tẻ bằng thiết bị Minolta SPAD-502. Số liệu thu thập được tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel 2010, phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh trung bình nghiệm thức bằng trắc nghiệm phân hạng Duncan ở mức ý nghĩa α = 0,05 và α = 0,01 thông qua phần mềm thống kê SAS 9.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu về đặc điểm thực vật học cây đậu phộng (hệ thống rễ cọc, rễ phụ tập trung ở tầng 5–35 cm, hoạt động cộng sinh của vi khuẩn cố định đạm Rhizobium trong nốt sần; cấu trúc thân, phân cành cấp 1 và cấp 2; hình thái lá kép lông chim; cơ chế nở hoa thụ phấn và sự hình thành tia quả; kích thước và vỏ quả chứa 2–4 hạt). Văn bản phân tích các yếu tố ngoại cảnh tác động đến cây lạc: khoảng nhiệt độ tối ưu 25–35°C (nảy mầm 30–32°C, ra hoa 25–35°C, chín 25–28°C), nhu cầu ẩm độ và yêu cầu cơ cấu đất tơi xốp có độ pH từ 5 đến 7.

Về chất điều hòa sinh trưởng, tác giả phân tích chi tiết công thức cấu tạo, tính chất hóa học và con đường tác động sinh lý của Paclobutrazol trong việc chuyển hóa trạng thái phytohormone thực vật. Phần tổng quan lược khảo các công trình nghiên cứu ngoài nước tiêu biểu như công trình của Sachiko Senoo và Akihiro Isoda (2003) tại Đại học Chiba (Nhật Bản) trên các mức 100–400 ppm; nghiên cứu của Puste và Srijita Paul (2013–2014) tại Ấn Độ về phun đơn và phun kép ở mức 250 ppm. Các nghiên cứu trong nước được tổng hợp gồm kết quả nghiên cứu của Nguyễn Cao Nguyên (2009) tại Củ Chi trên giống lạc Lỳ ở mức 400 ppm; khảo nghiệm của Trần Thanh Dũng (2019–2020) tại Quảng Nam với chế phẩm Paclobutrazol 10% ở các mật độ khác nhau; thí nghiệm của Nguyễn Văn Thắng (2006) tại Phan Thiết ở mức 80 ppm và kết quả xử lý nồng độ 0,24% tại Trung tâm Đậu đỗ Hà Nội.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên tại khu thí nghiệm xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo. Số liệu khí tượng từ tháng 6 đến tháng 8/2022 cho thấy: nhiệt độ trung bình dao động từ 27,5°C đến 28,4°C; tổng lượng mưa hàng tháng ở mức cao (202,6 mm đến 236,4 mm); ẩm độ không khí bình quân từ 81% đến 85%; tổng số giờ nắng dao động từ 159,0 đến 211,5 giờ. Kết quả phân tích lý hóa tầng đất canh tác cho thấy đất có thành phần cơ giới cát chiếm ưu thế 59,2%, thịt 14,8%, sét 25,0%; độ chua pH(H2O) đạt 5,2; hàm lượng chất hữu cơ tổng số thấp (0,89%); đạm tổng số 0,072%; lân tổng số (P2O5) 0,053%; kali tổng số (K2O) 0,064% và dung tích hấp thu cation CEC đạt 5,67 meq/100g.

Nội dung chương trình bày quy trình kỹ thuật canh tác đồng ruộng: cày bừa đất đạt độ ẩm 75–80%; bón lót toàn bộ 5 tấn phân chuồng, 562,5 kg supe lân và 549 kg vôi bột; bón thúc đợt 1 vào giai đoạn 12–15 NSG (kết hợp làm cỏ, xới vun gốc với 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali); bón thúc đợt 2 vào 22–25 NSG (với lượng đạm và kali còn lại). Quy trình chuẩn bị dung dịch phun thuốc Brightstar 25SC, thời điểm can thiệp tại 20 NSG và 35 NSG được quy chuẩn hóa. Hệ thống các chỉ tiêu theo dõi được định nghĩa và thiết lập phương pháp tính toán chi tiết, bao gồm: thời gian sinh trưởng, động thái tăng trưởng chiều cao cây (đo định kỳ 10 ngày/lần từ 15 đến 75 NSG), số lá thân chính, chỉ số SPAD, chiều dài lóng 1-2-3, chiều dài thư đài (đo tại 35 NSG và lúc thu hoạch 92 NSG), số cành và tỷ lệ cành hữu hiệu, tổng số và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu trên rễ (đo tại 60 NSG), mật số sâu hại, tỷ lệ lá nhiễm bệnh nấm, các thành phần cấu thành năng suất quả/hạt, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu và các công thức phân tích chi phí, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận.

Chương 3: Kết quả thảo luận

Chương 3 trình bày hệ thống số liệu thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu qua các bảng thống kê:

  • Thời gian sinh trưởng và phát dục: Giống đậu phộng Giấy trong tất cả các nghiệm thức đều bắt đầu nở hoa đồng loạt tại thời điểm 26 NSG và đạt độ chín thu hoạch tại 92 NSG. Việc xử lý Paclobutrazol ở các nồng độ và số lần phun khác nhau hoàn toàn không làm thay đổi các mốc thời gian phát dục này.
  • Động thái sinh trưởng thân lá: Chiều cao cây bắt đầu thể hiện sự khác biệt rõ nét từ 25 NSG (5 ngày sau phun đợt 1). Đến giai đoạn 75 NSG, nghiệm thức đối chứng NT1 đạt chiều cao lớn nhất (73,2 cm); trong khi đó các nghiệm thức có xử lý Paclobutrazol đều bị khống chế chiều cao rõ rệt: NT2 đạt 60,9 cm, NT4 đạt 58,0 cm, NT6 đạt 57,0 cm, NT3 đạt 51,1 cm và thấp nhất là nghiệm thức phun kép NT5 chỉ đạt 49,9 cm (khác biệt rất có ý nghĩa thống kê ở mức p < 0,01). Chiều dài cụm lóng 1, 2, 3 tại 75 NSG ở đối chứng là 11,8 cm, giảm xuống 9,1 cm (NT2), 9,2 cm (NT4), 8,7 cm (NT6) và ngắn nhất là 8,6 cm (NT5). Số lá trên thân chính duy trì ổn định từ 23,4 đến 23,7 lá/cây, không có sai khác thống kê giữa các nghiệm thức. Chỉ số diệp lục tố SPAD tại 75 NSG tăng tỷ lệ thuận với mức độ xử lý: đạt thấp nhất ở NT1 (41,9), trong khi NT2 đạt 46,2, NT4 đạt 48,9 và NT5 đạt giá trị cao nhất (51,6).
  • Khả năng phân cành và phát triển thư đài: Paclobutrazol kích thích sự phân cành; tổng số cành tăng từ 6,3 cành/cây (NT1) lên 8,3 cành (NT2), 8,5 cành (NT4) và đạt cực đại 9,2 cành/cây ở NT5 và NT6. Số cành hữu hiệu tăng tương ứng từ 5,6 cành (NT1) lên 7,7 cành (NT2), 8,0 cành (NT4) và 8,4 cành (NT5). Chiều dài thư đài tại thời điểm thu hoạch 92 NSG bị thu ngắn đáng kể do tác động của chất ức chế: đối chứng đạt 5,8 cm, NT2 đạt 5,4 cm, NT4 đạt 5,1 cm, NT6 đạt 4,5 cm và NT5 chỉ đạt 4,1 cm.
  • Hoạt động của nốt sần và áp lực dịch hại: Tổng số nốt sần trên rễ tại 60 NSG giảm dần khi tăng liều lượng và số lần phun, từ 401,1 nốt/cây ở đối chứng xuống còn 371,4 nốt (NT2), 333,7 nốt (NT4) và thấp nhất là 304,5 nốt (NT5). Tỷ lệ nốt sần hữu hiệu duy trì ở mức cao từ 84,7% đến 92,8%. Về sâu hại, mật số sâu khoang (5,3 đến 8,3 con/m²) và sâu xanh da láng (5,3 đến 8,3 con/m²) ở mức thấp. Tuy nhiên, áp lực bệnh nấm lá tăng rõ rệt theo nồng độ và số lần xử lý: tại 75 NSG, tỷ lệ bệnh đốm nâu ở NT1 là 33,3%, tăng lên 38,7% (NT2), 38,7% (NT4) và cao nhất 44,3% (NT5); tỷ lệ bệnh đốm đen ở NT1 là 30,7%, tăng lên 35,7% (NT2) và đạt 45,3% (NT5); bệnh gỉ sắt ở NT1 là 23,7%, tăng lên 25,3% (NT2) và đạt 33,7% (NT5). Hiện tượng này được giải thích do cây phân nhiều cành làm tán giao nhau rậm rạp, gặp mùa mưa tạo ẩm độ cao lưu giữ trong tiểu khí hậu luống cây.
  • Năng suất và hiệu quả kinh tế: Xử lý Paclobutrazol giúp nâng cao số quả chắc/cây từ 24,1 quả (NT1) lên 32,6 quả (NT2), 35,1 quả (NT6) và đạt cao nhất ở NT4 với 37,0 quả. Tuy nhiên, khối lượng 100 quả và khối lượng 100 hạt lại có xu hướng giảm dần khi tăng nồng độ xử lý: khối lượng 100 quả từ 88,0 g (NT1) giảm xuống 83,5 g (NT2), 70,5 g (NT4) và thấp nhất là 57,0 g (NT5); khối lượng 100 hạt giảm từ 48,9 g (NT1) xuống 43,4 g (NT2), 38,5 g (NT4) và 30,5 g (NT5). Do sự tương tác giữa số quả chắc và trọng lượng quả, năng suất lý thuyết đạt đỉnh ở NT2 với 11,2 tấn/ha. Năng suất thực thu (quả tươi) đạt giá trị cao nhất tại nghiệm thức NT2 (6,6 tấn/ha), vượt trội có ý nghĩa thống kê so với đối chứng NT1 (6,1 tấn/ha), NT3 (5,8 tấn/ha), NT4 (5,5 tấn/ha), NT6 (5,0 tấn/ha) và nghiệm thức thấp nhất NT5 (4,9 tấn/ha). Về hiệu quả kinh tế, NT2 đem lại tổng thu 165,00 triệu đồng/ha, lợi nhuận thuần đạt 93,52 triệu đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận đạt mức cao nhất là 1,31 lần.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Thí nghiệm đã thu thập đầy đủ hệ thống dữ liệu định lượng, phản ánh chính xác tác động của các mức nồng độ và số lần phun Paclobutrazol lên hình thái sinh trưởng, động thái sâu bệnh và các yếu tố năng suất của cây đậu phộng trồng vụ Hè Thu trên nền đất xám bạc màu.

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu nông học, năng suất và hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức:

Nghiệm thức xử lý Chiều cao cây 75 NSG (cm) Chiều dài thư đài 92 NSG (cm) Tổng số quả chắc/cây (quả) Khối lượng 100 quả (g) Khối lượng 100 hạt (g) Năng suất lý thuyết (tấn/ha) Năng suất thực thu (tấn/ha) Tổng chi phí (triệu đ/ha) Lợi nhuận (triệu đ/ha) Tỷ suất lợi nhuận (lần)
NT1 (Đối chứng) 73,2 5,8 24,1 88,0 48,9 8,8 6,1 70,86 81,64 1,15
NT2 (0,75 ml/L - 1 lần) 60,9 5,4 32,6 83,5 43,4 11,2 6,6 71,48 93,52 1,31
NT3 (0,75 ml/L - 2 lần) 51,1 4,6 29,5 69,5 39,2 7,6 5,8 72,10 72,90 1,01
NT4 (1,00 ml/L - 1 lần) 58,0 5,1 37,0 70,5 38,5 9,9 5,5 71,52 64,98 0,90
NT5 (1,00 ml/L - 2 lần) 49,9 4,1 31,6 57,0 30,5 7,2 4,9 72,18 50,32 0,70
NT6 (1,25 ml/L - 1 lần) 57,0 4,5 35,1 68,0 38,4 8,6 5,0 71,56 53,44 0,75

Kết quả nghiên cứu mang lại những đóng góp khoa học và giải pháp ứng dụng cụ thể:

  • Giải pháp kỹ thuật khuyến nghị: Khuyến nghị áp dụng chế phẩm Brightstar 25SC ở liều lượng 0,75 ml/L (tương đương nồng độ hoạt chất 187,5 ppm Paclobutrazol), phun 1 lần duy nhất vào giai đoạn 20 NSG với lượng nước thuốc 400 L/ha cho giống đậu phộng trồng vụ Hè Thu trên đất xám bạc màu tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Công thức này giúp khống chế chiều cao ở mức hợp lý (giảm 16,8% chiều cao so với đối chứng), tăng số cành hữu hiệu, duy trì chiều dài thư đài thích hợp cho việc xâm nhập vào đất, mang lại năng suất thực thu cao nhất (6,6 tấn quả tươi/ha) và tỷ suất lợi nhuận đạt cực đại (1,31 lần).
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận làm sáng tỏ ngưỡng giới hạn sinh học khi sử dụng Paclobutrazol trong điều kiện vụ Hè Thu tại miền Đông Nam Bộ. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc lạm dụng Paclobutrazol ở nồng độ cao (từ 250 ppm trở lên) hoặc phun lặp lại 2 lần tuy làm tăng số lượng quả chắc nhưng lại gây tác động tiêu cực nghiêm trọng: làm co ngắn thư đài quá mức (xuống dưới 4,5 cm khiến tia quả khó tiếp xúc đất), làm giảm kích thước hạt dẫn đến khối lượng 100 quả và 100 hạt suy giảm sâu, đồng thời làm tăng mật độ tán lá khiến tỷ lệ nhiễm bệnh đốm nâu, đốm đen và gỉ sắt tăng vọt, hệ quả là năng suất thực thu và hiệu quả tài chính thấp hơn cả nghiệm thức đối chứng không phun thuốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Dựa trên các giới hạn nghiên cứu được công bố trong văn bản, đề tài tồn tại một số hạn chế sau:

  • Phạm vi không gian và mùa vụ: Thí nghiệm mới chỉ được tiến hành trong phạm vi một vụ Hè Thu duy nhất (từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2022) trên một dạng đất xám bạc màu tại xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Các biến động về thời tiết giữa các năm và sự khác biệt giữa các tiểu vùng sinh thái chưa được kiểm chứng.
  • Đối tượng giống: Nghiên cứu chỉ khảo sát chuyên biệt trên giống đậu phộng Giấy, chưa đánh giá phản ứng sinh lý và hình thái của các giống đậu phộng phổ biến khác (như Lỳ, MD7, HL25) đối với các mức nồng độ Paclobutrazol này.
  • Dải nồng độ can thiệp: Thí nghiệm mới chỉ khảo sát 3 mức nồng độ đơn (187,5 ppm; 250 ppm; 312,5 ppm) và 2 mức xử lý phun kép, chưa khảo sát các dải nồng độ thấp hơn (dưới 187,5 ppm) để tìm ra điểm biên tối ưu mịn hơn.
  • Vấn đề kiểm soát nấm bệnh đi kèm: Nghiên cứu ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ bệnh đốm nâu, đốm đen và gỉ sắt khi cây phân cành rậm rạp do tác động của Paclobutrazol, nhưng chưa xây dựng quy trình kết hợp đồng bộ giữa việc xử lý chất điều hòa sinh trưởng với lịch trình phun thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ nấm bệnh chuyên biệt.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Tiếp tục mở rộng khảo nghiệm công thức phun Paclobutrazol 187,5 ppm qua nhiều vụ mùa khác nhau (đặc biệt là vụ Đông Xuân và Xuân Hè) và trên các nhóm đất khác nhau tại Đông Nam Bộ để khẳng định tính ổn định của công nghệ xử lý.
  • Nghiên cứu kết hợp việc xử lý Paclobutrazol ở liều lượng 0,75 ml/L với việc điều chỉnh mật độ gieo trồng (khoảng cách hàng và cây) nhằm tạo độ thông thoáng cho tán lá, hạn chế sự bùng phát của các bệnh nấm lá trong mùa mưa.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này cung cấp dữ liệu thực nghiệm có giá trị tham khảo chuyên môn cao:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Nông học, Khoa học cây trồng và Bảo vệ thực vật; cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp tại các địa phương có diện tích canh tác đậu phộng lớn; người trực tiếp sản xuất đậu phộng trên vùng đất xám bạc màu thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Quy trình thiết kế thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) tuân thủ tiêu chuẩn khảo nghiệm Quốc gia QCVN 01-57 : 2011/BNNPTNT và phương pháp điều tra dịch hại theo QCVN 01-168 : 2014/BNNPTNT.
    • Bộ dữ liệu định lượng chi tiết về động thái biến thiên của các chỉ tiêu giải phẫu hình thái thực vật (chiều cao, lóng thân, thư đài) và chỉ số sinh lý diệp lục SPAD dưới tác động của chất ức chế sinh trưởng.
    • Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp thông qua bảng cân đối chi phí định mức đầu tư, doanh thu và tỷ suất lợi nhuận thực tế trên đơn vị diện tích hecta.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nghiệm thức phun Brightstar 25SC 0,75 ml/L một lần (NT2) lại cho năng suất thực thu cao nhất dù không phải là nghiệm thức có số quả chắc nhiều nhất?
Nghiệm thức NT4 (1,00 ml/L, 1 lần) ghi nhận tổng số quả chắc cao nhất (37,0 quả/cây so với 32,6 quả ở NT2). Tuy nhiên, nồng độ Paclobutrazol ở NT4 làm giảm kích thước hạt, khiến khối lượng 100 quả giảm xuống 70,5 g và khối lượng 100 hạt giảm còn 38,5 g (ở NT2 tương ứng là 83,5 g và 43,4 g). Nghiệm thức NT2 đạt được sự cân đối tối ưu giữa việc tăng số lượng quả chắc trên cây và duy trì trọng lượng quả/hạt lớn, kết hợp với tỷ lệ nhiễm bệnh nấm lá thấp hơn, do đó đạt năng suất thực thu cao nhất (6,6 tấn quả tươi/ha).

2. Tác động của Paclobutrazol đối với sự phát triển của thư đài (tia quả) đậu phộng diễn ra như thế nào?
Paclobutrazol có tác dụng ức chế kéo dài tế bào nên làm chiều dài thư đài giảm dần theo nồng độ và số lần xử lý. Tại thời điểm thu hoạch 92 NSG, chiều dài thư đài ở đối chứng là 5,8 cm, giảm xuống 5,4 cm (NT2), 5,1 cm (NT4), 4,5 cm (NT6) và ngắn nhất là 4,1 cm ở NT5 (phun 2 lần 1,00 ml/L). Khi thư đài bị thu quá ngắn hoặc xuất hiện ở các cành phía trên cao, tia quả sẽ khó đâm sâu vào đất, dẫn đến quả non khó hình thành hoặc tạo thành quả kém chất lượng.

3. Việc phun Paclobutrazol có làm thay đổi thời gian ra hoa, thời gian thu hoạch và số lá trên thân chính của giống đậu phộng Giấy không?
Kết quả thực nghiệm chứng minh Paclobutrazol hoàn toàn không làm thay đổi các chỉ tiêu này. Cả 6 nghiệm thức đều bắt đầu nở hoa đồng loạt ở 26 ngày sau gieo và thời gian sinh trưởng thu hoạch đều kết thúc ở 92 ngày sau gieo. Số lá kép trên thân chính tại thời điểm 75 NSG cũng dao động ổn định trong khoảng 23,4 đến 23,7 lá/cây, sự sai khác giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê do số lá là đặc tính di truyền quy định bởi giống.

4. Tại sao tỷ lệ bệnh đốm nâu, đốm đen và gỉ sắt lại tăng cao ở các nghiệm thức xử lý Paclobutrazol nồng độ cao và phun lặp lại 2 lần?
Khi xử lý Paclobutrazol ở liều cao hoặc phun 2 lần, cây bị hạn chế chiều cao nhưng lại kích thích ra nhiều cành (tổng số cành đạt tới 9,2 cành/cây so với 6,3 cành ở đối chứng). Tán lá giữa các cây giao nhau dày đặc, kết hợp với điều kiện mùa mưa vụ Hè Thu (lượng mưa trên 200 mm/tháng, ẩm độ không khí 81–85%) làm giảm sự thoát hơi nước mặt đất, tạo ra tiểu khí hậu ẩm ướt kéo dài dưới gốc. Đây là môi trường lý tưởng để bào tử các loài nấm Cercospora arachidicola, Phaeoisariopsis personata và Puccinia arachidis nảy mầm và xâm nhiễm mạnh qua các tổn thương sinh học.

5. Đất khu vực thí nghiệm tại xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo có những đặc điểm hạn chế nào và tác giả đã xử lý bằng biện pháp gì?
Đất thí nghiệm là đất xám bạc màu có thành phần cơ giới thô (cát chiếm tới 59,2%), độ pH hơi chua (5,2), nghèo chất hữu cơ (0,89%) và dung tích hấp thu thấp (CEC = 5,67 meq/100g). Để khắc phục các hạn chế này và đáp ứng yêu cầu sinh thái của cây đậu phộng, quy trình canh tác đã tiến hành bón lót toàn bộ 549 kg vôi bột/ha nhằm nâng cao độ pH đất, đồng thời bổ sung 5.000 kg phân bò hoai mục cùng 562,5 kg supe lân để cải thiện độ phì nhiêu và khả năng giữ nước, giữ phân của đất trước khi gieo hạt.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã giải quyết trọn vẹn bài toán kiểm soát vọt chiều cao và tăng cường hiệu quả canh tác đậu phộng vụ Hè Thu trên nền đất xám bạc màu tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thông qua việc chuẩn hóa quy trình sử dụng chất điều hòa sinh trưởng Paclobutrazol. Kết quả thực nghiệm khẳng định việc xử lý chế phẩm Brightstar 25SC ở liều lượng 0,75 ml/L (nồng độ Paclobutrazol 187,5 ppm) phun một lần vào thời điểm 20 ngày sau gieo là công thức tối ưu, giúp kiềm chế chiều cao thân chính, kích thích phân cành hữu hiệu, hạn chế tỷ lệ bệnh hại lá và đem lại năng suất thực thu đạt 6,6 tấn quả tươi/ha cùng lợi nhuận thuần 93,52 triệu đồng/ha. Công trình cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm khoa học, minh chứng rõ nét về ngưỡng tác động sinh lý của Paclobutrazol trên cây họ Đậu và là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho sản xuất nông nghiệp tại vùng Đông Nam Bộ.