Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khối lượng thể tích và các nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng thể tích 1. Khái niệm và phương pháp xác định khối lượng thể tích Khái niệm: Khối lượng thể tích của gỗ là tỉ số giữa khối lượng gỗ trên một đơn vị thể tích gỗ (Lê Xuân Tình, 1998).
= Trong đó: KLTT: Khối lượng thể tích g/cm3 hoặc kg/m3 m: là khối lượng tính bằng g hoặc kg; V: là thể tích tính bằng cm3 hoặc m3 Một phần các giá trị công nghệ và cường độ gỗ trong chế biến vẫn có thể đánh giá chính xác một cách tương đối trước chỉ nhờ căn cứ vào khối lượng thể tích. Nhìn chung khối lượng thể tích gỗ càng cao thì tính chất cơ học (khả năng chịu lực) của gỗ càng lớn và ngược lại gỗ có khối lượng thể tích càng nhỏ thì cường độ chịu lực càng thấp. Các phương pháp có thể đo khối lượng thể tích gỗ như: Phương pháp đo, cân; phương pháp nhúng nước; phương pháp dùng thể tích kế thủy ngân; phương pháp thủ công. Tuy nhiên, phương pháp phổ biến đơn giản nhất mà tôi thực hiện trong nghiên cứu này chúng chỉ sử dụng phương pháp đo, cân vì đây là phương pháp thường dùng và chính xác nhất.
Phương pháp cân đo: Mẫu thí nghiệm được xẻ với một kích thước nhất định trong nghiên cứu này mẫu đo có kích thước 20 (Xuyên tâm) x 20 (Tiếp tuyến) x 300 (Dọc thớ) mm. Sau đó dùng thước kẹp hoặc panme đo kích Luan van 6 thước ba chiều. Cân khối lượng mẫu gỗ chính xác đến 0,01g (Lê Xuân Tình, 1998). Các nhân tố ảnh hưởng tới khối lượng thể tích a.
Loài cây Ứng với mỗi loài cây sẽ có một khối lượng thể tích và thành phần các chất trong gỗ, kết cấu các tế bào mạch gỗ khác nhau. Nói cách khác: Loài gỗ khác nhau sẽ có cấu tạo khác nhau, mà cấu tạo khác nhau thì khối lượng thể tích sẽ khác nhau. Yếu tố cấu tạo ở đây được biểu thị bằng cấu tạo tế bào trong cây. Đó là tỷ lệ tế bào vách dày và tế bào vách mỏng.
Chính nó tạo ra sự chênh lệch về độ rỗng nhiều, ít khác nhau trong cây. Khối lượng thể tích càng cao tương ứng với độ rỗng càng nhỏ và ngược lại khối lượng thể tích càng thấp độ rỗng càng nhiều (Lê Xuân Tình, 1998). Tỉ lệ gỗ sớm – gỗ muộn Với những loài cây gỗ có gỗ sớm - gỗ muộn phân biệt thì tỉ lệ gỗ muộn nhiều hay ít có ảnh hưởng lớn đến khối lượng thể tích của gỗ. Tỷ lệ gỗ muộn càng nhiều thì khối lượng thể tích càng lớn.
Ngược lại tỉ lệ gỗ muộn ít thì khối lượng thể tích gỗ nhỏ. Thông thường, khối lượng thể tích của gỗ muộn cao gấp 2 - 3 lần khối lượng thể tích của gỗ sớm (Lê Xuân Tình, 1998). Độ ẩm Độ ẩm là tỷ lệ phần trăm lượng nước có trong gỗ so với khối lượng của gỗ. Lượng nước chứa trong gỗ là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khối lượng thể tích của gỗ.
Tùy theo lượng nước chứa trong gỗ nhiều hay ít, gỗ chứa nhiều nước khối lượng thể tích lớn, chứa ít nước khối lượng thể tích nhỏ (Lê Xuân Tình, 1998). Vị trí khác nhau trong thân cây Khối lượng thể tích cũng khác nhau ở các vị trí khác nhau trong thân Luan van 7 cây. Nói chung Khối lượng thể tích giảm dần từ gốc đến ngọn (gỗ ở phần gốc có khối lượng thể tích cao nhất, giữa thân là trung bình và gần ngọn là thấp nhất). Trong một thân cây sự chênh lệch gốc và ngọn về khối lượng thể tích trung bình đạt từ 10 - 25% (Lê Xuân Tình, 1998).
Khối lượng thể tích ở gần tủy và vỏ là nhỏ nhất. Khối lượng thể tích ở gỗ lõi lớn hơn ở gỗ giác. Tuổi cây Thông thường gỗ sẽ đạt khối lượng thể tích cao nhất ở độ tuổi thành thục sinh học, và cao hơn so với gỗ tuổi già và tuổi non. Điều kiện chăm sóc Gỗ sẽ có khối lượng thể tích cao nếu chế độ chăm sóc và khí hậu đủ tốt để cây thích hợp sinh trưởng và phát triển (ví dụ: Điều kiện đất, độ ẩm, khí hậu thích hợp cho cây sinh trưởng).
Trái lại khối lượng thể tích gỗ thấp nếu rừng quá dày, cây thiếu ánh sáng, lớn chậm. Sau khi tỉa thưa, cải thiện điều kiện ánh sáng, đất làm cho cây sinh trưởng tốt nên khối lượng thể tích gỗ lại tăng lên (Lê Xuân Tình, 1998). Vòng tăng trưởng hàng năm Sự thay đổi Khối lượng thể tích theo vòng năm sinh trưởng hàng năm của cây gỗ lá rộng và cây gỗ lá kim là khác nhau. Đối với gỗ lá rộng mặt xếp vòng, vòng tăng trưởng hàng năm càng lớn thì khối lượng thể tích càng cao vì vòng năm rộng gỗ muộn nhiều.
Như vậy đối với mạch vòng, vòng năm rộng vừa rút ngắn chu kỳ kinh doanh vừa nâng cao chất lượng (Lê Xuân Tình, 1998). Đối với gỗ lá rộng mạch phân tán - vòng năm rộng thì tỷ lệ gỗ muộn và gỗ sớm là một hàng số nên chất lượng không thay đổi. Ở loài gỗ này nếu cây sinh trưởng nhanh thì rút ngắn được chu kỳ kinh doanh. Luan van 8 Đối với gỗ lá kim thì ngược lại, vòng năm càng hẹp Khối lượng thể tích càng cao, vì gỗ lá kim vòng năm càng rộng gỗ muộn càng ít (Lê Xuân Tình, 1998).
Tính chất cơ học của gỗ Nghiên cứu cường độ của gỗ dựa vào những nguyên lý tính toán sức bền vật liệu làm cơ sở. Những mặt khác gỗ lại là vật liệu không đồng nhất, cho nên trong các phương pháp tính toán cụ thể lại có những chỗ không hoàn toàn giống nhau. Tính chất cơ học của gỗ phức tạp hơn các vật liệu khác như sắt thép, xi măng… vì nó biến đổi theo từng loài cây, cũng như theo chiều dọc thớ, xuyên tâm và tiếp tuyến (Lê Xuân Tình, 1998). Ứng lực Ứng lực là nội lực sản sinh bởi các phần tử cấu tạo bên trong gỗ chống lại lực bên ngoài tác động, làm gỗ biến dạng, kí hiệu là P đơn vị là Newton (N).
Ứng lực bằng ngoại lực về trị số nhưng ngược chiều. Ứng lực vừa có tác dụng chống lại lực tác động phá hoại từ bên ngoài, đồng thời có tác dụng khôi phục hình dạng và kích thước cũ của vật (Vũ Huy Đại và cs, 2005). Ứng suất Ứng suất là ứng lực sản sinh trên một đơn vị diện tích chịu lực. Ứng suất được dùng để so sánh cường độ của các loại vật khác nhau và đánh giá khả năng chịu lực của vật liệu.
Biến hình Sau khi bị ngoại lực tác dụng, gỗ ít nhiều đều thay đổi về hình dạng và kích thước (Hoàng Thị Hiền, 2016). Hiện tượng đó gọi là sự biến dạng (hay biến hình) (Lê Xuân Tình, 1998). Có bốn dạng biến dạng đó là: Biến dạng tuyệt đối, biến dạng tương đối, Biến dạng đàn hồi và biến dạng vĩnh cửu. Các tính chất cơ học của gỗ Tính chất cơ học của gỗ có thể chia các ứng lực thành 3 nhóm chính dựa theo từng phương thức tác dụng của ngoại lực, chiều thớ của gỗ và nội lực sản sinh trong gỗ: Nhóm ứng lực đơn giản, các ứng lực phức tạp, các ứng lực có tính chất công nghệ.
Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ nghiên cứu ở các ứng lực phức tạp cụ thể là sức chịu uốn tĩnh. Sức chịu uốn tĩnh: Là đại lượng đặc trưng cho khả năng chịu lực uốn của gỗ. Khả năng chịu lực uốn cho phép của các loại gỗ là khác nhau Nếu ứng suất uốn xuất hiện trong chi tiết vượt quá giới hạn cho phép của gỗ, chi tiết bị phá huỷ. Các chi tiết của sản phẩm gỗ thường được lưu ý nhiều nhất về khả năng chịu uốn.
Dầm (xà) trong các kết cấu gỗ thường do lực uốn làm biến dạng. Có thể nói sức chịu uốn tĩnh là chỉ tiêu quan trọng thứ 2 sau lực ép dọc thớ. Để đánh giá cường độ gỗ thường lấy tổng số hai ứng suất: ép dọc thớ và uốn tĩnh làm tiêu chuẩn. Khi bị uốn cong, phần gỗ chịu ép biến dạng nhiều hơn phần gỗ chịu kéo.
Vì trong gỗ ứng suất kéo dọc thớ lớn gấp 2 - 3 lần ứng suất ép dọc thớ. Do đó mặt trung hòa chuyển dịch về phía chịu kéo (Lê Xuân Tình, 1998). Mẫu thử nghiệm có kích thước 20 ×20 × 300 mm, kích thước lớn nhất theo chiều dọc thớ. Mẫu gỗ đặt trên 2 gối tựa tròn cố định, bán kính cong của gối là 15 mm.
Cự ly 2 gối là 240 mm. Khoảng cách giữa 2 điểm đặt lực P/2 là 80 mm, hoặc tại điểm giữa của dầm (P). Tốc độ tăng lực là 7000±1500N/ph (Lê Xuân Tình, 1998). Các loại gỗ lá rộng qui định hướng tác động của lực theo chiều tiếp tuyến.
Các loại gỗ lá kim thí nghiệm cả 2 hướng. Luan van 10 Ứng suất uốn tĩnh tính theo công thức: Nếu 2 điểm đặc lực: = (N/m2) Nếu 1 điểm đặt lực: = (N/m2) Trong đó: Pmax là lực phá hoại (N); l cự ly hai gối (m); b và h là bề rộng và chiều cao của mẫu (m); Hệ số điều chỉnh độ ẩm α = 0,04. Xác định môđun đàn hồi uốn tĩnh (MOE) Thí nghiệm xác định Môđun đàn hồi dùng mẫu có hình dạng và kích thước, bố trí như lực uốn tính. Mỗi mẫu thử, cho lực lặp lại 6 lần.
Mỗi lần tác động từ 200 ÷ 600N. Tốc độ tăng lực là 5000 ± 1000N/ph. Đọc số trên đồng hồ đo biến hình ngay sau mỗi lần tăng lực. Lấy trị số bình quân biến dạng của 3 lần tăng lực cuối cùng (Lê Xuân Tình, 1998).
Tính Môđun đàn hồi theo công thức sau, chính xác đến 108N/m2: MO = (N/m2) cho 2 điểm đặt lực. MO = (N/m2) cho 1 điểm đặt lực Trong đó: l cự ly hai gối (m); b và h là bề rộng và chiều cao của mẫu (m); Luan van 11 f là độ võng; P’ = 600 – 200N = 400N hoặc P’ = 400 – 200N = 200N. Sức chịu uốn va đập - Để đánh giá độ giòn hay độ dẻo của gỗ hiện nay người ta thường dùng sức chịu uốn xung kích. Tính chất này cũng rất quan trọng trong các đồ dùng của cuộc sống hàng ngày con người các công trình như gỗ chống lò thì cần dẻo dai, khó gẫy, gẫy chậm, lúc gẫy phải phát ra tiếng động khi bị phá hoại để người biết, tránh xảy ra tai nạn lao động.
Gỗ làm đà giáo đòi hỏi và rất cần độ dẻo dai cao mới có thể đảm bảo được sự an toàn.