phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm các nội dung chính nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu về marketing kỹ thuật số, niềm tin thƣơng hiệu và trung thành thƣơng hiệu - Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hoạt động marketing kỹ thuật số của Công ty Vntrip OTA - Chƣơng 3: Các phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing kỹ thuật số cho Công ty Vntrip OTA 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MARKETING KỸ THUẬT SỐ, NIỀM TIN THƢƠNG HIỆU VÀ TRUNG THÀNH THƢƠNG HIỆU 1. Cơ sở lý thuyết về marketing kỹ thuật số 1.1 Khái niệm marketing kỹ thuật số Việc sử dụng Internet và các phƣơng tiện truyền thông kỹ thuật số và công nghệ khác để hỗ trợ hoạt động marketing ngày càng đƣợc các viện nghiên cứu và các chuyên gia thảo luận và tranh cãi về thuật ngữ. Marketing kỹ thuật số đã đƣợc gọi là tiếp thị kỹ thuật số, tiếp thị Internet, tiếp thị trực tuyến và tiếp thị web. Chaffey và Chadwick (2016) đã thay đổi thuật ngữ “Internet marketing” sang “marketing kỹ thuật số” (digital marketing) vì nó cho thấy việc sử dụng một loạt các nền tảng kỹ thuật số để tƣơng tác với ngƣời dùng.
Tất nhiên, những gì là quan trọng đối với một công ty không phải là thuật ngữ mà là các hoạt động marketing kỹ thuật số phải đƣợc ƣu tiên theo sự liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ. Vì vậy, marketing kỹ thuật số có thể đƣợc định nghĩa đơn giản là những hoạt động mà giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu marketing thông qua việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số và truyền thông. (Theo Dave Chaffey & Fiona Ellis Chadwick- 2012) Trong thực tế, marketing kỹ thuật số bao gồm quản lý các hình thức hiện diện trực tuyến khác nhau, chẳng hạn nhƣ trang web của công ty và trang truyền thông xã hội kết hợp với các kỹ thuật truyền thông trực tuyến bao gồm marketing công cụ tìm kiếm, marketing truyền thông xã hội, quảng cáo trực tuyến và marketing qua email và quan hệ hợp tác trực tuyến với các trang web khác. Những kỹ thuật này đƣợc sử dụng để hỗ trợ các mục tiêu có đƣợc khách hàng mới và cung cấp dịch vụ cho khách hàng hiện tại giúp phát triển mối quan hệ khách hàng thông qua quản trị quan hệ khách hàng điện tử (E-CRM).
Tuy nhiên, để marketing kỹ thuật số thành công, vẫn cần phải tích hợp các kỹ thuật này với các phƣơng tiện truyền thống nhƣ in ấn, TV và thƣ trực tiếp nhƣ một phần của truyền thông tiếp thị đa kênh. 6 Theo Kotler (2003), marketing kỹ thuật số là một dạng của marketing internet -chú trọng vào việc lập kế hoạch về sản phẩm, giá và tiến hành phân phối trên thị trƣờng thông qua các công cụ điện tử. Dave Chaffey (2012) quan niệm marketing kỹ thuật số là việc quản lí và thực hiện các hoạt động marketing bằng cách sử dụng các phƣơng tiện truyền thông điện tử nhƣ website, email, iTV, các phƣơng tiện không dây kết hợp với dữ liệu số về đặc điểm và hành vi của khách hàng. Tƣơng tự, các công cụ này cũng có thể đƣợc ứng dụng trong giáo dục đại học, giúp các doanh nghiệp có thể quản lý tốt học viên và tăng các dịch vụ cung ứng nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Theo Kotler và cộng sự (2017), marketing kỹ thuật số là phƣơng pháp tiếp cận marketing kết hợp giữa các tƣơng tác trực tuyến và trực tiếp giữa doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng, pha trộn giữa phong cách và giá trị thực tế trong quá trình xây dựng thƣơng hiệu và quan trọng nhất là sự bổ trợ lẫn nhau giữa kết nối máy - máy và tiếp xúc trực tiếp ngƣời - ngƣời nhằm tăng cƣờng cam kết gắn bó của khách hàng với doanh nghiệp. Tóm lại, marketing kỹ thuật số có thể hiểu là hoạt động marketing dựa trên nền tảng Internet nhằm tiếp cận, truyền thông và bán sản phẩm hữu hình và dịch vụ tới khách hàng.2 Các công cụ marketing kỹ thuật số Có nhiều công cụ truyền thông trực tuyến mà các nhà tiếp thị phải xem xét nhƣ một phần của chiến lƣợc truyền thông hoặc là một phần của kế hoạch chiến dịch tiếp thị trực tuyến. Để hỗ trợ lập kế hoạch truyền thông, Chaffey và Smith (2012) cho rằng các công cụ marketing trực tuyến này đƣợc chia thành 06 nhóm chính: 7 Hình 1. Các thành phần của marketing kỹ thuật số Marketing dựa trên việc tìm kiếm (Search marketing) Nhà quảng cáo đặt tin nhắn trên công cụ tìm kiếm để khuyến khích nhấp vào trang web khi ngƣời dùng nhập cụm từ khóa cụ thể.
Hai kỹ thuật tiếp thị tìm kiếm chính là các vị trí đƣợc trả tiền hoặc các liên kết đƣợc tài trợ bằng cách sử dụng trả cho mỗi lần nhấp chuột và các vị trí trong danh sách tự nhiên hoặc hiện hữu bằng cách tối ƣu hóa công cụ tìm kiếm trong đó không phải trả phí cho các lần nhấp chuột từ công cụ tìm kiếm. Quan hệ công chúng trực tuyến (Online PR) Tối đa hóa hình ảnh công ty, thƣơng hiệu, sản phẩm hoặc trang web của cá nhân, tổ chức doanh nghiệp trên các trang web của bên thứ ba nhƣ mạng xã hội, blog, podcast, dòng thời gian hoặc nguồn cấp dữ liệu mà đối tƣợng mục tiêu có khả năng truy cập. Quan hệ đối tác trực tuyến (Online Partnership) Tạo và quản lý các thỏa thuận dài hạn để quảng bá dịch vụ trực tuyến trên các trang web của bên thứ ba hoặc thông qua liên lạc qua email. Các hình thức hợp tác khác nhau bao gồm xây dựng liên kết, tiếp thị liên kết, tổng hợp nhƣ các trang web so sánh giá, tài trợ trực tuyến và đồng thƣơng hiệu.
Quảng cáo trực tuyến (Online Ads) Sử dụng quảng cáo trực tuyến nhƣ banner và quảng cáo đa phƣơng tiện để đạt đƣợc nhận thức về thƣơng hiệu và khuyến khích nhấp chuột đến trang web mục tiêu. 8 Marketing qua email (Email marketing) Thuê một loạt danh sách email hoặc đặt quảng cáo trong các bản tin điện tử của bên thứ ba hoặc sử dụng danh sách nội bộ để kích hoạt và duy trì khách hàng Marketing qua mạng xã hội (Social media marketing) Đây cũng là một công cụ đƣợc nhiều doanh nghiệp sử dụng do chi phí đầu tƣ thấp, đồng thời phạm vi truyền bá thông tin rộng và nhanh chóng. Các công ty tham gia và quảng cáo trên các mạng xã hội cộng đồng để tiếp cận và thu hút khách hàng của họ. Tiếp thị lan truyền hoặc tin nhắn truyền miệng trực tuyến có liên quan chặt chẽ đến điều này.
Ở đây nội dung đƣợc chia sẻ hoặc tin nhắn đƣợc chuyển tiếp để giúp đạt đƣợc nhận thức và trong một số trƣờng hợp sẽ thúc đẩy phản ứng của khách hàng. Tiếp thị truyền thông xã hội là một danh mục quan trọng của marketing kỹ thuật số, bao gồm truyền thông thu hút khách hàng trên trang web riêng của công ty hoặc các sự hiện diện mạng xã hội nhƣ Facebook hoặc Twitter hoặc trong các trang web, blog và diễn đàn chuyên nghiệp. Tuy nhiên, để tận dụng lợi ích của phƣơng tiện truyền thông xã hội, điều quan trọng là bắt đầu và tham gia đối thoại với khách hàng. Những điều này có thể liên quan đến sản phẩm, chƣơng trình khuyến mãi hoặc dịch vụ khách hàng và nhằm mục đích tìm hiểu thêm về khách hàng.
Khái niệm niềm tin thƣơng hiệu và trung thành thƣơng hiệu 1.1 Niềm tin thương hiệu Trong tài liệu nghiên cứu xây dựng thƣơng hiệu, khái niệm về niềm tin thƣơng hiệu dựa trên ý tƣởng về mối quan hệ thƣơng hiệu và ngƣời tiêu dùng, đƣợc xem nhƣ là một sự thay thế cho mối liên hệ giữa công ty và ngƣời tiêu dùng (Sheth và Parvatiyar, 1995; Zehir và cộng sự, 2011). Theo Chaudhuri và Holbrook (2001), niềm tin thƣơng hiệu đã đƣợc định nghĩa là sự sẵn lòng của ngƣời tiêu dùng dựa vào khả năng của thƣơng hiệu để thực hiện chức năng của nó. Niềm tin thƣơng hiệu có liên quan đến ý định hành vi và trong các tình huống không chắc chắn. Cụ thể, niềm tin làm giảm sự không chắc chắn, đặc biệt là khi ngƣời tiêu dùng cảm thấy ít bị tổn thƣơng khi họ có thể dựa vào một thƣơng hiệu đáng tin cậy.
9 Niềm tin thƣơng hiệu cũng đƣợc định nghĩa là một cảm giác an toàn của ngƣời tiêu dùng rằng thƣơng hiệu sẽ đáp ứng mong đợi tiêu dùng của họ (Ballester và Aleman, 2001). Agustin và Singh (2005) cho rằng niềm tin là khi khách hàng tin rằng có thể dựa vào cam kết của ngƣời bán để cung cấp các dịch vụ đã hứa, trong khi giá trị quan hệ có thể đƣợc định nghĩa là nhận thức của ngƣời tiêu dùng về những lợi ích đƣợc hƣởng so với chi phí phát sinh trong việc duy trì mối quan hệ trao đổi liên tục. Niềm tin thƣơng hiệu có thể đƣợc xem là đòn bẩy uy tín, mà đổi lại có thể tăng cƣờng hành vi mua lặp lại của ngƣời tiêu dùng. Niềm tin có thể định nghĩa ngắn gọn là lợi ích mong muốn của ngƣời tiêu dùng trong quan hệ trao đổi (Agustin và Singh, 2005; Sahin và cộng sự, 2011).
Khái niệm về niềm tin thƣơng hiệu có liên quan đến truyền thông thƣơng hiệu và sự hài lòng của ngƣời tiêu dùng đối với một thƣơng hiệu sản phẩm cụ thể và tăng cƣờng tầm quan trọng trong hành vi tiêu dùng. Niềm tin của khách hàng đối với thƣơng hiệu là kết quả quan trọng của sự hài lòng thƣơng hiệu và truyển thông thƣơng hiệu.2 Trung thành thương hiệu Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ định nghĩa thƣơng hiệu là “Tên, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tƣợng hay thiết kế, hoặc sự kết hợp giữa chúng nhằm mục đích xác định và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một hoặc một nhóm ngƣời bán này với sản phẩm và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh”. Feldwick (1996) định nghĩa thƣơng hiệu là “Tập hợp những nhận thức trong tâm trí ngƣời tiêu dùng”. Theo đó, quan điểm này xem xét thƣơng hiệu trên khía cạnh khác biệt của thƣơng hiệu đó là ảnh hƣởng tác động của thƣơng hiệu trong tâm trí ngƣời tiêu dùng, ảnh hƣởng của thƣơng hiệu đến thái độ và hành vi của ngƣời tiêu dùng.
Lòng trung thành của khách hàng là một trong những yếu tố chính tạo ra lợi thế cạnh tranh vững chắc (Prentice và Loureiro, 2017). Đó là một tài sản quan trọng giúp các công ty đảm bảo doanh số bán hàng trong tƣơng lai từ khách hàng, cũng nhƣ nâng cao lợi nhuận của họ (Disfani và cộng sự, 2017; Hallowell, 1996).