Luận văn thạc sĩ địa kỹ thuật xây dựng ảnh hưởng của việc lọc muối tới đặc trưng cơ lý của đất nhiễm mặn và ứng dụng để tính toán sức chịu tải của cọc ở cần giờ tp hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu ảnh hưởng lọc muối đến đặc trưng cơ lý đất nhiễm mặn, ứng dụng tính toán sức chịu tải cọc tại Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

147
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của lọc muối

Ảnh hưởng của lọc muối đến đặc trưng cơ lý của đất nhiễm mặn là trọng tâm của nghiên cứu. Khi hàm lượng muối trong đất giảm, các đặc trưng vật lý và cơ học của đất thay đổi đáng kể. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sau khi lọc muối, độ ẩm của đất tăng nhẹ, trong khi giới hạn nhão (WL) và giới hạn dẻo (WP) giảm mạnh. Điều này dẫn đến sự giảm rõ rệt chỉ số dẻo (IP) và tăng chỉ số nhão (IL). Lọc muối cũng làm giảm sức chống cắt của đất, thể hiện qua sự giảm lực dính (c) từ 40% đến 50% so với mẫu ban đầu. Góc ma sát trong (φ) giảm không đáng kể. Những thay đổi này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá sức chịu tải của nền đất.

1.1. Thay đổi đặc trưng vật lý

Sau khi lọc muối, độ ẩm của đất tăng nhẹ, trong khi giới hạn nhão (WL) và giới hạn dẻo (WP) giảm mạnh. Chỉ số dẻo (IP) giảm rõ rệt, dẫn đến sự thay đổi trong phân loại đất. Điều này ảnh hưởng đến khả năng chịu tải và độ ổn định của nền đất.

1.2. Thay đổi đặc trưng cơ học

Sức chống cắt của đất giảm đáng kể sau khi lọc muối. Lực dính (c) giảm từ 40% đến 50%, trong khi góc ma sát trong (φ) giảm không đáng kể. Sự thay đổi này làm giảm khả năng chịu tải của đất, đặc biệt trong các công trình xây dựng.

II. Đặc trưng cơ lý đất nhiễm mặn

Đặc trưng cơ lý đất nhiễm mặn được nghiên cứu kỹ lưỡng trong luận văn. Đất nhiễm mặn tại Cần Giờ có tính nén lún tăng khi hàm lượng muối giảm từ 7.5g/l xuống còn 1g/l sau 21 ngày. Sự thay đổi này được thể hiện qua các thí nghiệm nén cố kết và nén ba trục. Kết quả cho thấy, đất sau khi lọc muối có hệ số rỗng tăng và khả năng chịu tải giảm. Đất nhiễm mặn cũng có cấu trúc thay đổi, được quan sát qua kính hiển vi điện tử quét (SEM).

2.1. Tính nén lún

Đất nhiễm mặn tại Cần Giờ có tính nén lún tăng khi hàm lượng muối giảm. Kết quả thí nghiệm nén cố kết cho thấy hệ số rỗng tăng và khả năng chịu tải giảm. Điều này ảnh hưởng đến độ ổn định của nền đất trong các công trình xây dựng.

2.2. Cấu trúc đất

Cấu trúc đất nhiễm mặn thay đổi sau khi lọc muối, được quan sát qua kính hiển vi điện tử quét (SEM). Sự thay đổi này ảnh hưởng đến các đặc trưng cơ lý của đất, đặc biệt là khả năng chịu tải và độ ổn định.

III. Tính toán sức chịu tải cọc

Tính toán sức chịu tải cọc là ứng dụng quan trọng của nghiên cứu. Sử dụng phần mềm Plaxis 3D Foundation, nghiên cứu đánh giá sự thay đổi sức chịu tải của cọc khi đất bị lọc muối. Kết quả cho thấy, sức chịu tải của cọc giảm khoảng 7% và độ lún tăng khoảng 6.5% so với đất tự nhiên. Ứng dụng tính toán này giúp các kỹ sư thiết kế có phương án hợp lý cho các công trình xây dựng tại Cần Giờ.

3.1. Phân tích sức chịu tải

Sử dụng phần mềm Plaxis 3D Foundation, nghiên cứu đánh giá sự thay đổi sức chịu tải của cọc khi đất bị lọc muối. Kết quả cho thấy sức chịu tải giảm khoảng 7% so với đất tự nhiên.

3.2. Độ lún của cọc

Độ lún của cọc tăng khoảng 6.5% khi đất bị lọc muối. Điều này ảnh hưởng đến độ ổn định của công trình, đặc biệt trong các khu vực đất nhiễm mặn như Cần Giờ.

IV. Ứng dụng tại Cần Giờ TP Hồ Chí Minh

Ứng dụng tại Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh là mục tiêu chính của nghiên cứu. Khu vực Cần Giờ có đặc điểm đất nhiễm mặn phức tạp, ảnh hưởng đến các công trình xây dựng. Nghiên cứu đã tiến hành thí nghiệm ngoài hiện trường và trong phòng để đánh giá sự thay đổi đặc trưng cơ lý của đất. Kết quả cho thấy, Cần Giờ là khu vực cần được quan tâm đặc biệt trong thiết kế và xây dựng công trình.

4.1. Thí nghiệm hiện trường

Nghiên cứu tiến hành thí nghiệm ngoài hiện trường tại Cần Giờ, bao gồm khoan khảo sát và thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT). Kết quả cho thấy sự phân bố độ mặn theo độ sâu và ảnh hưởng của nó đến đặc trưng cơ lý của đất.

4.2. Thí nghiệm trong phòng

Các thí nghiệm trong phòng bao gồm xác định độ mặn, lọc muối và đánh giá đặc trưng cơ lý của đất. Kết quả cho thấy sự thay đổi đáng kể trong tính chất đất sau khi lọc muối.

21/02/2025
Luận văn thạc sĩ địa kỹ thuật xây dựng ảnh hưởng của việc lọc muối tới đặc trưng cơ lý của đất nhiễm mặn và ứng dụng để tính toán sức chịu tải của cọc ở cần giờ tp hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC ĐẤT NHIỄM MẶN Ở CẦN GIỜ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẤT NHIỄM MẶN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC ĐẤT NHIỄM MẶN Ở CẦN GIỜ 1. Đặc điểm chung của vùng đất ngập mặn ở Huyện Cần Giờ Cần Giờ là một huyện ven biển và là vùng đất ngập mặn nằm ở phía Đông Nam của Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm khoảng 50 km.

Mạng lưới sông rạch chằng chịt cùng với ảnh hưởng chế độ bán nhật triều của biển Đông đã tạo nên chế độ thủy văn phức tạp và các vùng giáp nước, gây bất lợi cho việc tiêu thoát nước và khả năng tự làm sạch của dòng chảy. Đó cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến độ mặn ở khu vực này. Cấu tạo nền: Là sản phẩm của quá trình tương tác giữa sông và biển, phần lớn diện tích nền đất của vùng được tạo bằng các vật liệu trầm tích đầm lầy và đầm lầy- biển rất giàu vật liệu hữu cơ, cùng với các trầm tích sông biển hỗn hợp. Đây là kiểu cấu tạo của nhóm nền đất yếu, ít thuận lợi cho việc xây dựng.

Từ những đặc điểm địa lý nói trên, Huyện Cần Giờ có nhiều đặc điểm về đất đai, thổ nhưỡng rất khác so với các Quận Huyện khác trong Thành phố Hồ Chí Minh. Những yếu tố này cũng có những ảnh hưởng lớn đến các công trình xây dựng ở đây. Vị trí và địa chất khu vực khảo sát [4] Khu vực khảo sát là tại trường trung học cơ sở Cần Thạnh, tại thị trấn Cần Thạnh - Huyện Cần Giờ - Tp. Hồ Chí Minh thể hiện qua hình 1.

Vị trí khu vực khảo sát. 5 Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, thấp và sẽ bị ngập nước khi thủy triều lên cao. Mặt cắt địa chất được thể hiện như ở hình bên dưới. Mặt cắt địa chất khu vực Cần Thạnh, Huyện Cần Giờ.[4] Qua mặt cắt địa chất, ta thấy đất tại vùng khảo sát có lớp trên là lớp bùn sét hữu cơ dày khoảng 18m.

Dưới 18m là các lớp đất sét cứng, lớp cát pha sét có chỉ số SPT từ 8 đến 18. Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý của đất tại vùng khảo sát được thể hiện trong phụ lục 1.1 và phụ lục 4. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẤT NHIỄM MẶN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1. Trên thế giới:  Theo nghiên cứu của Bjerrum L.

(1954) [12] về đất sét mặn ở Oslo Na Uy, đã đưa ra quan hệ giữa nồng độ muối và các chỉ tiêu cơ lý : 6 Hình 1. Sự thay đổi của độ ẩm W, WL và WP theo nồng độ muối [12] Hình 1. Sự thay đổi tỉ số (c/p) hay (Su/p) theo chỉ số dẻo IP [12] • Hình 1.3 cho thấy khi nồng độ muối càng giảm thì giới hạn dẻo WP giảm ít còn giới hạn nhão WL giảm nhiều kéo theo chỉ số dẻo IP của đất sẽ giảm mạnh, từ đó làm chỉ số nhão IL (độ sệt) tăng cao, đất trở nên “nhạy” hơn. Điều này rất đáng được quan tâm và xem xét.

• Khi xét đến sự quan hệ với chỉ số dẻo, Hình 1.4 cho thấy khi chỉ số dẻo giảm thì tỷ số Su/p sẽ giảm, hay nói cách khác sức chống cắt của đất sẽ giảm. • Từ những mối quan hệ trên, có thể rút ra được nhận xét là việc giảm nồng độ muối sẽ là giảm sức chống cắt của đất. • Cũng từ những nhận xét trên, Laurits Bjerrum đã tiến hành thực nghiệm cho thấy mối quan hệ giữa chỉ số dẻo và sức chống cắt trên mẫu tự nhiên và mẫu lọc. Kết 7 quả nhận được chỉ ra rằng, qua việc lọc muối đã làm cho chỉ số dẻo giảm, đồng thời sức chống cắt của đất cũng giảm, như trong bảng 1.

Sự thay đổi đặc trưng cơ lý của mẫu đã lọc và mẫu không lọc [12]  Nabil F.Ismael (1998), Member, ASCE, and M. Mollah (1998) [15] đã công bố kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của việc lọc muối đến tính chất của đất cát pha sét ở Kuwait. Họ đã tiến hành lấy mẫu đất mặn ở hai vị trí khác nhau của thành phố, sau đó tiến hành các thí nghiệm lọc theo sơ đồ như hình 1.5, đồng thời với quá trình lọc họ tiến hành đo độ dẫn điện của nước thoát ra nhằm đánh giá độ hòa tan của các ion trong quá trình lọc này diễn ra. Mô hình - thiết bị lọc mẫu [15] Kết quả của họ được trình bày trong hình 1.

Kết quả đã cho thấy rằng có gia tăng đặc tính nén lún của đất trước và sau khi lọc rõ rệt, thể hiện qua hệ số rỗng eo và các chỉ số nén lún CC, CS đều tăng sau khi mẫu đất bị lọc muối. Bảng tổng kết đặc trưng nén lún của mẫu trước và sau lọc [15] Hình 1. Đồ thị đường cong nén lún e – logp cho mẫu trước và sau lọc. Kết quả thí nghiệm nén 3 trục mẫu tự nhiên và mẫu lọc [15] Kết quả thí nghiệm của họ chứng minh rằng, qua quá trình lọc thì các đặc trưng về sức chống cắt của đất sẽ giảm như trong hình 1.

Theo đó, lực dính c giảm rất nhiều khoảng 40% còn góc ma sát trong φ thì lại giảm rất ít chỉ khoảng 3.5% 9  Cũng dựa trên kết quả thí nghiệm đất sét biển ở NaUy và kết luận về ảnh hưởng của việc lọc muối làm giảm sức chống cắt và tăng độ nhạy của đất, L. Rosenqvist (1956) [13], đã tiếp tục đưa ra nghiên cứu về đất sét trầm tích ở NaUy. Các thí nghiệm được tiến hành tương tự trên mẫu tự nhiên và mẫu lọc. Đối với mỗi loại thí nghiệm sẽ tiến hành trên mẫu nguyên dạng và mẫu chế bị.

a) Mẫu tự nhiên b) Mẫu đã lọc Hình 1. Kết quả thí nghiệm đất sét trầm tích mẫu tự nhiên và mẫu đã lọc [13] Hình 1. Quan hệ giữa độ nhạy và hàm lượng muối trong đất sét biển NaUy 10 Kết quả đã chỉ ra rằng: sức chống cắt của đất sau khi lọc giảm (Hình 1.8) và độ nhạy của đất sẽ tăng (Hình 1. Theo nghiên cứu của Laurits Bjerrum, thì khi hàm lượng muối trong đất giảm hơn 50% (từ 31.7g/lít còn khoảng 10 đến 15g/lít) thì độ nhạy của đất sét biển ở Na Uy tăng lên rất nhanh từ St = 5 lên St = 110.

[13]  Yun-Tae Kim and Thanh-Hai Do (2010) [16] đã nghiên cứu bằng thực nghiệm ảnh hưởng của việc lọc đến đặc tính nén lún của đất sét biển ở Busan. Và các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nếu có sự diễn ra quá trình lọc muối xảy ra trên đất mặn (thường là đất sét biển) thì tính nén lún của nó sẽ tăng lên so với đất ban đầu. Mặt cắt và thí nghiệm đo pH và hàm lượng muối tại hiện trường tại khu vực Hawjeon [16] Hình 1. Khảo sát sự biến thiên của hệ số rỗng trước và sau khi lọc [16] 11 Theo tác giả, ứng xử cố kết của đất sét lọc muối vùng Busan sau khi hàm lượng muối được giảm từ 17g/l xuống 3g/l thì áp lực tiền cố kết giảm do ảnh hưởng của quá trình lọc.

Tuy nhiên, chỉ số nén và chỉ số nở của mẫu đất tăng lên sẽ dẫn đến mẫu đất lọc có tính nén lún cao hơn mẫu tự nhiên. Và kết quả tổng hợp của các nghiên cứu điển hình đi trước về đất nhiễm mặn bị lọc muối có những thay đổi về đặc trưng cơ lý được thể hiện qua bảng 1. Sự thay đổi đặc trưng cơ lý của đất bị rửa mặn đã được nghiên cứu Thông số Tác giả Tự nhiên Đã lọc Đánh giá 1) Độ ẩm W (%) Bjerrum[12] 41 40.5% 2) Giới hạn nhão WL (%) Bjerrum[12] 43.4 Giảm 37% 3) Giới hạn dẻo WP (%) Bjerrum[12] 19.7% 4) Chỉ số dẻo IP Bjerrum[12] 23.7% 5) Chỉ số nhão IL Bjerrum[12] 0.4 Tăng 167% 6) Trọng lượng riêng γ (KN/m3) Ismale [15] 16.1% 7) Hệ số rỗng ban đầu eo Ismale [15] 0.8% 10) Áp lực tiền cố kết PC (KPa) Hai-Do[16] 220 170 Giảm 22.7% 11) Chỉ số nén CC Ismale [15] 0.12 Tăng 20% 12) Chỉ số nở CS Ismale [15] 0.028 Tăng 40% Về ảnh hưởng của việc lọc đến các tính chất cơ lý được nghiên cứu bởi nhiều tác giả và thống kê như trong bảng 1. Các nghiên cứu của Bjerrum [12] cho thấy giới hạn nhão giảm khi hàm lượng muối giảm, trong khi đó thì độ ẩm tự nhiên hầu như không đổi.

Cả Bjerrum [12] và Ismale [15] đều cho kết quả thí nghiệm sức chống cắt của đất giảm sau khi đất bị lọc muối thể hiện qua việc giảm mạnh thông số quan trọng là lực dính c. Còn Ismale [15] thì cho thấy chỉ số nén và chỉ số nở đều tăng đối với đất sau khi đã lọc muối. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng đối với đất lọc muối thì độ lún sẽ gia tăng thêm khi xảy ra quá trình lọc muối. 12 Nhìn chung, các tác giả đã cải tiến các thiết bị đo thông thường thành các thiết bị toàn diện hơn, để đánh giá đúng điều kiện thực tế bên ngoài hơn.

Từ những công trình nghiên cứu trên, phần nào cũng đưa ra được những nền tảng ban đầu cho các công trình nghiên cứu tiếp theo. Trong nước: Những nghiên cứu về đất nhiễm mặn ở nước ta có các nhà nghiên cứu: GS.TSKH Nguyễn Văn Thơ, PGS.TS Tô Văn Lận, GS.TS Trần Thị Thanh, PGS.TS Đỗ Minh Toàn, Viện Khoa Học Thủy Lợi Miền Nam và Trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội, … đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng muối đến chỉ số dẻo, sức chống cắt, tính biến dạng của đất. Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây tập trung vào sự ảnh hưởng của việc gia tăng hàm lượng muối đến các đặc trưng cơ lý đối với những loại đất cụ thể ở từng khu vực có những đặc thù về các điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa chất, lịch sử hình thành, … khác nhau. a) Đỗ Minh Toàn (Trường Đại học Mỏ Địa chất Hà Nội)[11] Tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng muối dễ hòa tan đến một số tính chất của đất loại sét thuộc trầm tích mQIV3 như: tính dẻo, độ bền chống cắt, sự biến dạng và hiện tượng rửa trôi muối ở một số nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

Sau đây là các kết luận của tác giả: - Khi hàm lượng muối thay đổi tính dẻo của đất cũng thay đổi: đầu tiên hàm lượng muối tăng thì tính dẻo của đất cũng tăng đến một giới hạn nào đó tùy thuộc vào các loại đất, sau đó tính dẻo bắt đầu giảm rõ rệt cùng với sự gia tăng hàm lượng muối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của lọc muối đến đặc trưng cơ lý đất nhiễm mặn và ứng dụng tính toán sức chịu tải cọc tại Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh là một nghiên cứu chuyên sâu về tác động của quá trình lọc muối lên các đặc tính cơ lý của đất nhiễm mặn, đồng thời ứng dụng kết quả này vào tính toán sức chịu tải của cọc tại khu vực Cần Giờ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về sự thay đổi của đất dưới ảnh hưởng của muối mà còn đưa ra các phương pháp tính toán thực tiễn, hỗ trợ hiệu quả cho các dự án xây dựng tại vùng đất nhiễm mặn. Đây là tài liệu hữu ích cho các kỹ sư, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến địa kỹ thuật và xây dựng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nghiên cứu này cung cấp thêm góc nhìn về chất lượng nước và ảnh hưởng của môi trường. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người mang đến góc nhìn về ô nhiễm môi trường và tác động đến sức khỏe.