Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất lúa thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Theo thống kê của FAO (2022), năm 2020 sản lượng lúa gạo toàn cầu 1,2 tỷ tan, lúa mì 0,8 tỷ tan. Chau A sản xuất lúa gạo 89 %, lúa mì 46 % sản lượng toàn cầu: Trung Quốc chiếm 28 % lúa gạo, 18 % lúa mì.
Sản lượng lúa gạo và lúa mì tăng trung bình lần lượt là 18 % và 28 % trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2020. Năng suất lúa Châu Á đạt 4,8 tan/ha, Châu Mỹ đạt 6,5 tắn/ha, Châu Phi còn 2,2 tan/ha. Chau A và Châu Âu là hai khu vực san xuất lúa mi chính, năng suất lúa mi Chau A 3,4 tan/ha, Châu Âu 4,1 tắn/ha và Châu Phi ghi nhận năng suất 2,5 tan/ha. Năm 2021, sản lượng lúa gạo 787 triệu tan, lúa mì 771 triệu tấn, lúa miễn sản lượng ổn định, lúa mạch giảm 8 % trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2021.
Sản xuất lúa gạo: Trung Quốc 27 %, An độ 25 %, Bangladesh 7 % và Châu A cũng chiếm ty trọng lớn trong khối lượng lúa mì toàn cầu: Trung Quốc 18 %, An Độ 14 % và Liên bang Nga 10 % (FAO, 2022). Năm 2022, Ngũ cốc là nhóm cây trồng được sản xuất nhiều nhất trên toàn cầu với 3,1 tỷ tấn. Trong đó, lúa gạo ghi nhận sản lượng 776 triệu tan, lúa mì 808 triệu tan, lúa mach 155 triệu tan, lúa miến 58 triệu tan. Châu A vẫn là nơi dẫn đầu về sản xuất lúa gạo, tổng sản lượng lúa gạo của Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh đạt 59 %.
Sản lượng lúa mì Liên bang Nga chiếm 13 % tổng sản lượng toàn cầu và cũng là quốc gia dẫn đầu về sản xuất lúa mạch 15 %, tiếp theo là Úc 9 %, Pháp 7 %. Châu Phi sản xuất hơn một nữa tông sản lượng lúa miến toàn cầu, trong đó Nigeria, Sudan cùng nhau chiếm 21 % sản lượng và kế tiếp là Hoa kỳ 8 % (FAO, 2023). Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Cả năm 2021 sản lượng lúa đạt 43,85 triệu tấn, tăng gần 1,1 triệu tấn (sản lượng lúa Đông xuân đạt 20,63 triệu tan, tăng 754,4 nghìn tan; sản lượng lúa Hè thu và Thu đông đạt 15,16 triệu tấn, tăng 383,4 nghìn tấn; sản lượng lúa mùa đạt 8,06 triệu tấn, giảm 50,4 nghìn tan). Nang suất lúa đạt 6,06 tan/ha, tăng 0,18 tan/ha so với năng suất lúa năm 2020.
Diện tích gieo trồng lúa năm 2021 tiếp tục xu hướng giảm, đạt 7,24 triệu ha, giảm 40 nghìn ha so với năm 2020; trong đó diện tích lúa mùa giảm nhiều nhất với 27,3 nghìn ha, lúa Đông xuân giảm 17,2 nghìn ha (Niên giám thống kê, 2021). Sản lượng lúa năm 2022 giảm so với năm 2021 nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ chế biến và xuất khẩu. Sản lượng lúa đạt 42,66 triệu tấn, giảm 1,19 triệu tấn. Tổng diện tích gieo trồng lúa năm 2022 có xu hướng giảm do ngành trồng trọt tiếp tục triển khai Đề án tái cơ cấu ngành, chuyên đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả hoặc không cân đối được nguồn nước sang trồng rau, màu, cây ăn quả hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản để có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Diện tích gieo trồng lúa đạt 7,1 triệu ha, giảm 129,9 nghìn ha so với năm 2021; năng suất lúa cả năm đạt 60 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha; sản lượng lúa cả năm dat 42,66 triệu tan, giam 1,19 triéu tan, trong đó sản lượng lúa Đông xuân dat 20 triệu tấn, giảm 652,7 nghìn tấn; sản lượng lúa Hè thu va Thu đông đạt 14,46 triệu tan, giam 707,5 nghin tan; san lượng lúa mùa dat 8,22 triệu tấn, tăng 167,8 nghìn tan (Niên giám thông kê, 2022). Diện tích, năng suất, sản lượng lúa Việt Nam 2018 - 2022 Năm Diệntích(nghìnha) Năng suất (tân/ha) Sản lượng (nghìn tân) 2018 7. Tình hình sản xuất lúa tại Kiên Giang Năm 2021, vụ Đông xuân: toàn tỉnh gieo trồng được 284,408 nghìn ha, đạt 99,44 % kế hoạch (giảm 1,592 nghìn ha) và giảm 1,87 % (giảm 5,429 nghìn ha) so với diện tích lúa Đông xuân năm 2020. Nguyên nhân diện tích gieo sạ chưa đạt kế hoạch và giảm so với năm 2020 chủ yéu do năm nay ảnh hưởng han mặn sớm, kéo dài và ở vùng U Minh Thượng có một số diện tích đã chuyên sang nuôi tôm.
Lúa Đông xuân năm 2021 với thời tiết khá thuận lợi, ít sâu bệnh, cây lúa phát triển tốt nên năng suất thu hoạch đạt khá cao, đạt 7,62 tan/ha, tăng 6,16 % so voi ké hoach (tang 0,45 tan/ha) va tăng 4,01 % so với năm 2020 (tăng 0,294 tan/ha); san lượng đạt 2.109 tan, tang 5,57 % so ké hoach (tang 114,239 nghin tan) va tang 2,06 % (tang 43.809 tan) so với vụ lúa Đông xuân năm 2020. Vụ Hè Thu (kê cả Xuân hè): tính đến ngày 15/5, toàn tỉnh đã gieo trồng được 150 nghìn ha, đạt 53,00% kế hoạch (Cục thống kê tỉnh Kiên Giang, 2021). Năm 2022, sản lượng lúa đạt 4.405,41 nghìn tan, giảm 111. Thực hiện dé án tái cơ cầu ngành nông nghiệp, các loại cây trồng đang có hướng chuyền dịch từ cây hàng năm sang cây lâu năm và cây hàng năm khác theo quy hoạch từng vùng sinh thái (Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang, 2022).
Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Kiên Giang 2018 - 2022 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (tan) 2018 728.405 (Nguồn: Niên giám thông kê tinh Kiên Giang, 2022) Theo Cục thống kê tỉnh Kiên Giang (2023), tổng diện tích gieo trồng lúa vụ mùa và Đông xuân là 349.538 ha, đạt 100,03 % kế hoạch và giảm 0,45 % so cùng kỳ; tong sản lượng thu hoạch 2.089 tan, đạt 104,21 % kế hoạch và tăng 3,05 % (tăng 74.767 tan) so cùng kỳ năm trước. Chia ra: Vu Mùa: lúa mùa năm 2023, toàn tinh đã gieo trồng được 68.499 20 ha, vượt 0,07 % kế hoạch và tăng 1,86 % (tăng 1.248,20 ha) so với vu mùa năm 2022. Năng suất thu hoạch đạt 5,35 tan/ha; sản lượng đạt 366.475 tan, tăng 1,29 % (tăng 4.679 tan) so với vụ mùa năm 2022. Sản xuất lúa mùa năm nay tương đối thuận lợi về thời tiết, mùa vụ, đồng thời hệ thống thủy lợi cơ bản đã đảm bảo được ngăn mặn, trữ ngọt nên hầu như không bị ảnh hưởng xâm nhập mặn.
Vu Đông xuân: toàn tỉnh đã gieo sa được 281.039 ha, vượt 0,01 % kế hoạch (vượt 39 ha) nhưng giảm 1 % so cùng ky năm 2022 (giảm 2. Năng suất đạt 7,68 tan/ha với sản lượng dat 2.614 tan, tăng 3,35 % so cùng kỳ năm 2022. Nhìn chung sản xuất lúa vụ Đông xuân năm nay có thuận lợi hơn năm 2022, do yếu tố thời tiết khí hậu thuận lợi, dịch hại ít xảy ra, hơn nữa giá lúa cũng cao hơn năm 2022. Vụ Hè thu: tính đến ngày 15/6/2023 toàn tỉnh gieo trồng ước khoảng 258.485 ha, đạt 92,55 % kế hoạch và giảm 3,88 % so cùng kỳ năm 2022 (giảm 10.
Đến nay đã thu hoạch được 13.049 ha, giảm 3,92 % so với cùng kỳ (giảm 533 ha), năng suất bình quân ước đạt 5,49 tắn/ha. Nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học mới vao sản xuất và sự hỗ trợ của các may móc thiết bị kỹ thuật nông nghiệp, nên năng suất lúa của tỉnh ngày càng tăng, giảm được công lao động và chi phi sản xuất đáng kẻ. Dinh dưỡng silic 1. Silic trong đất Silic trong vỏ trái đất xấp xi 32 % (Lindsay, 1979), silic ở dạng khoáng ran chuyền thành silic hoa tan (axit ortho silicic HySiO.) nhờ axit cacbonic có trong nước mưa, trong nước ngầm và nước sông theo phản ứng sau: CaAl›SizOs + 2CO2 + 4H20 ——> 2AI(OH): + Ca?! + 2SiO2 + 2HCO3 Mặc dù phan lớn các loại đất có thé chứa mức độ silic đáng ké, nhưng do trong quá trình canh tác có thể nông dân đã làm giảm mức độ silic hữu hiệu đối với cây trồng đến mức phải bù đắp bằng con đường dinh dưỡng dé cây trồng cho san lượng cao nhất.
Ở các vùng nóng ẩm và nhiệt đới có lượng mưa cao và quá trình đá ong hóa diễn ra mạnh, nên hàm lượng baze và silic trong đất giảm, trong khi đó sự tích lũy sắt và nhôm oxit lại tang (Narayan va ctv, 1999). Kha năng silic bị mất đi do rửa trôi theo chiều sâu là rất lớn, xap xi 54,2 kg/ha, gap 200 lần so với sự rửa trôi của Al (0,27 kg/ha). Luong silic rửa trôi và do cây trồng hút là cơ sở dé xác định hàm lượng silic trong đất. Tuy vậy, sự tích lũy của silic hòa tan trong đất là chưa được xác định rõ ràng.
Sự thay đổi của độ ẩm đất có tác động đến hàm lượng silic trong đất hơn là do quá trình canh tác (Narayan va ctv, 1999). Khi bón đầy đủ silic cây trồng sẽ được tăng cường bảo vệ chống lại bệnh hại khi điều kiện thời tiết không thuận lợi và làm tăng độ màu mỡ của đất thông qua cải thiện nước, tính chất vật lý, hóa học đất (Datnoff và Rodrigues, 2005). Silic trong cay Phân tích mô từ nhiều loại thực vat cho thay nồng độ silic từ 1 - 100 g Si/kg khối lượng khô, tùy thuộc vào loài thực vật (Epstein, 1999). Theo Yoshida (1975), hàm lượng silic trong cây một lá mầm khá lớn.
Tro của chúng có thé chứa đến 90 % S102. Theo Husby (1998), mặc dù silic không được coi là một chất dinh đưỡng can thiết cho hầu hết cây trồng nhưng nó cũng mang lại nhiều lợi ích. Bón phân silic cho cây lúa không chỉ làm tăng sự sinh trưởng và năng suất mà còn giảm tỷ lệ bệnh. Ngoài ra, silic tác động đến hap thu N ở lúa, đối với cây có bón silic thì lượng N trong khối lượng chất khô cao hơn so với cây không được bón.
Một số kết qua đã cho thấy rằng rễ lúa có khả năng hút và tích lũy silic, silic tích lũy trong cây lúa phân bố không đồng đều giữa các bộ phận của cây (Alina, 1984). Silic có trong các cơ quan khác nhau của cây lúa thay đổi từ cao đến thấp tương ứng từ vỏ trau, lá, cuống lá, rơm rạ và rễ (Wei và ctv, 2005). Theo Mai Nhữ Thắng và ctv (2005), silic rất cần thiết cho cây trồng, cây lúa sinh trưởng tốt khi được bổ sung silic, chính vì vậy mà silic là yếu tô thiết yếu đối với cây lúa. Công trình nghiên cứu của Ma và Yamaji (2006), đã dem đến một đột phá quan trọng trong lĩnh vực liên quan tới silic ở thực vật.
Nhóm nghiên cứu mô tả một gen đầu tiên giữ vai trò quan trọng trong việc nhận silic được họ xác định có trong cây bậc cao, đó là gen Low silicon rice 1.