Chương 1, chúng ta đi vào Chương 2 để tìm hiểu các lý thuyết khoa học và các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới có liên quan đến đề tài nghiên cứu của Tác giả. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT 2. Cơ sở lý thuyết khoa học 2. Lý thuyết đánh đổi của việc nắm giữ tiền mặt Bài nghiên cứu năm 2006 “Lý thuyết và Tập quán về Chính sách Thanh khoản Công ty” của Servaes, H.
Trong bài nghiên cứu này, “Lý thuyết đánh đổi của việc nắm giữ tiền mặt” được phát biểu như sau: Với sự nắm giữ tiền mặt, các công ty có thể né tránh huy động vốn bên ngoài. Việc huy động vốn bên ngoài buộc các công ty gánh chịu cả chi phí trực tiếp lẫn gián tiếp. Chúng ta gán tên gọi là “động cơ chi phí giao dịch”, sự ưa thích né tránh các chi phí trực tiếp là các chi phí “ra khỏi túi” (out of pocket) do huy động vốn. Các chi phí gián tiếp mà chúng ta thảo luận trong phần tiếp theo về “động cơ phòng ngừa” bao gồm tác động của thị trường, các chi phí thông tin và khó khăn hơn là đo lường các yếu tố của việc huy động vốn bên ngoài.
Động cơ chi phí giao dịch Chi phí giao dịch của việc huy động thêm vốn bên ngoài ở các thị trường nợ, và đặc biệt là các thị trường vốn cổ phần có thể quan trọng. Ngoài ra, việc huy động vốn trong các thị trường vốn hao phí thời gian, vì vậy có thể không có khả năng huy động đủ vốn mới một cách nhanh chóng để đáp ứng các cơ hội. Động cơ chi phí giao dịch đối với việc nắm giữ tiền mặt cho rằng các công ty nắm giữ tiền mặt chiến lược để tránh chi phí giao dịch này. Động cơ chi phí giao dịch cho rằng: - Các công ty với các cơ hội đầu tư tốt hơn nên nắm giữ nhiều tiền mặt hơn bởi vì chi phí cơ hội của việc thiết hụt tiền mặt sẽ cao hơn.
- Các công ty với dòng tiền dễ biến động hơn nên nắm giữ tiền mặt để phòng ngừa khả năng thiếu hụt tiền mặt cao hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Các công ty nhỏ nên nắm giữ tiền mặt nhiều hơn, bởi vì chi phí giao dịch của việc huy động vốn một phần bị ấn định và vì vậy cao hơn đối với các công ty nhỏ khi tính toán một tỷ lệ số tiền được huy động. - Mức độ chi tiêu vốn cũng có mối quan hệ cùng chiều với mức độ tiền mặt, giả định rằng mức chi tiêu vốn hiện tại là một đại diện tốt cho các nhu cầu đầu tư. - Các công ty chi trả cổ tức luôn luôn có thể cắt việc chi trả cổ tức khi cần vốn; vì vậy họ được kỳ vọng nắm giữ ít tiền mặt.
- Các công ty ở các nước có thị trường tài chính phát triển hơn được mong đợi nắm giữ ít tiền mặt, bởi vì họ chịu chi phí giao dịch thấp hơn khi họ cần huy động tiền. Động cơ phòng ngừa Huy động vốn bên ngoài không chỉ đòi hỏi chi trả chi phí trực tiếp (như phí bảo lãnh phát hành), mà còn đặt ra cho công ty các chi phí gián tiếp khác nhau. Các chi phí này liên quan đến việc định giá thấp (underpricing) hoặc sự không có sẵn vốn như là kết quả của sự bất cân xứng thông tin, sự nghi ngờ về quản trị hoặc các ảnh hưởng rộng lớn của thị trường. Trong thực tế, các thị trường tài chính không biết rõ về triển vọng của công ty như những nhà quản trị của công ty.
Sự bất cân xứng thông tin giữa công ty và thị trường hàm ý rằng sự đánh giá về công ty trong các thị trường trường tài chính thì không luôn luôn “đúng”. Khi một công ty cần tài trợ mới, có khả năng chứng khoán của họ bị thị trường định giá thấp, bởi vì thị trường không biết một cách đầy đủ về triển vọng của công ty. Nếu đó là trường hợp nhà quản trị công ty có thể không thích huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán bị định giá thấp này, bởi vì điều này sẽ pha loãng các cổ đông hiện hữu. Kết quả là giá trị bị mất đi.
Động cơ phòng ngừa đối với việc nắm giữ tiền mặt cho rằng các công ty nắm giữ thêm tiền mặt, để mà khi các nhu cầu tài trợ phát sinh, họ không phải tiếp cận một thị trường vốn mà không có đủ thông tin. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Theo động cơ phòng ngừa, 2 nhân tố có liên quan đến quyết định định nắm giữ bao nhiêu tiền mặt. - Giá trị của các cơ hội đầu tư: Các công ty có các cơ hội đầu tư tốt hơn nắm giữ tiền mặt nhiều hơn, bởi vì họ sẽ mất mát nhiều hơn nếu không thể thực hiện các đầu tư tương lai. - Lỗ hổng thông tin: Lỗ hổng thông tin giữa công ty và thị trường càng lớn thì khả năng định giá thấp càng lớn.
Lý thuyết tài trợ Bài nghiên cứu năm 2006 “Lý thuyết và Tập quán về Chính sách Thanh khoản Công ty” của Servaes, H. Trong bài nghiên cứu này, “Lý thuyết tài trợ” được phát biểu như sau: Theo lý thuyết tài trợ, mức độ sinh lời của công ty, chính sách cổ tức và các nhu cầu đầu tư tiếp theo làm cho các công ty gia tăng hoặc rút giảm số dư tiền mặt. Như vậy, số dư tiền mặt là một sản phẩm của các quyết định khác nhau, chứ không phải là một quyết định độc lập. Các công ty có đủ lợi nhuận có thể làm mọi thứ cho các khoản đầu tư của họ và có tiền để chi trả cổ tức và/hoặc mua lại cổ phiếu.
Vì các công ty duy trì cổ tức ở mức vừa phải nên cổ tức ngay lập tức không tăng theo sau thu nhập. Như vậy, các công ty với thu nhập cao hơn sẽ gia tăng tiền mặt. Nếu thu nhập này được kỳ vọng là vĩnh cửu thì công ty sẽ điều chỉnh việc chi trả cổ tức nhiều hơn để mà theo thời gian tình trạng tiền mặt của công ty giảm xuống. Ngoài ra, các công ty có lợi nhuận cao sẽ sử dụng thu nhập này để trả nợ.
Các công ty không có lợi nhuận hoặc các công ty có nhiều nhu cầu đầu tư trước hết sẽ sử dụng tiền mặt nắm giữ của họ. Nếu tiền không đủ để thực hiện tất cả các đầu tư thì họ sẽ cân nhắc việc phát hành nợ, nếu họ vẫn còn khả năng trả nợ. Sau khi tiếp cận với các thị trường nợ, nếu vẫn còn cần vốn thì các công ty có thể xem xét việc cắt giảm cổ tức, nhưng điều này không thể. Nếu khả năng sinh lời được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 kỳ vọng vẫn còn thấp trong lương lai thì công ty có thể cắt giảm cổ tức như là phương án cuối cùng.
Nếu lỗ hổng thông tin giữa công ty và thị trường là quá lớn đến nổi tài trợ nội bộ luôn là cơ chế tài trợ được ưa thích, sau đó kịch bản ở trên xuất hiện. Trước hết, các công ty sẽ luôn sử dụng các nguồn nội bộ để đáp ứng các nhu cầu đầu tư của họ, điều này hàm ý rằng khi lợi nhuận thấp và/hoặc nhu cầu đầu tư cao, các công ty rút giảm số dư tiền mặt xuống và phát hành nợ. Khi lợi nhuận cao và/hoặc nhu cầu đầu tư thấp, các công ty trả nợ và gia tăng số dư tiền mặt. Theo kinh nghiệm, việc phân biệt giữa quan điểm thứ tự tài trợ với quan điểm đánh đổi không dễ làm, bởi vì nhiều biến có thể được sử dụng để đại diện cho quan điểm này cũng như đại diện cho quan điểm kia.
Ví dụ, quan điểm đánh đổi cho rằng các công ty có nhiều lợi nhuận hơn nên nắm giữ tiền mặt nhiều hơn bởi vì các công ty có rất nhiều lợi nhuận thường cũng có nhiều cơ hội đầu tư tốt. Nhưng mối quan hệ cùng chiều giữa khả năng sinh lời và việc nắm giữ tiền mặt cũng là một hàm ý về quan điểm thứ tự tài trợ. Một dự đoán đặc biệt về mối quan hệ giữa vốn, chi tiêu vốn và chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) với việc nắm giữ tiền mặt. Theo quan điểm đánh đổi, các công ty đầu tư nhiều hơn và có nhiều cơ hội đầu tư tốt hơn nên nắm giữ tiền mặt, bởi vì họ mất đi nhiều hơn khi họ không có sẵn tiền.
Mặt khác, quan điểm thứ tự tài trợ cho rằng các công ty này sẽ nắm giữ tiền mặt ít hơn bởi vì họ cắt giảm dự trữ tiền mặt để đầu tư. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 2. Công trình nghiên cứu năm 1999 “Dự trữ tiền mặt và việc mua lại công ty” của Harford, J. Trong bài nghiên cứu này, các Tác giả trình bày mô hình được sử dụng để xác định các công ty giàu tiền mặt.
Các công ty giàu tiền mặt là công ty tích lũy dự trữ tiền mặt lớn hơn dự đoán của mô hình. Mô hình được ước lượng sử dụng dữ liệu của các công ty Hoa Kỳ từ năm 1950 đến năm 1994. Các Tác giả thực hiện công trình nghiên cứu này để kiểm tra xem các công ty sử dụng tiền mặt như thế nào. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Phương trình hồi quy của mô hình như sau: Cash/Salesi,t = ai + b1NetCFO/Salesi,t + b2∆Risk Premiumt+1 + b3Recessiont + b4∆NetCFO/Salesi,t+1 + b5∆NetCFO/Salesi,t+2 + b6M/Bi,t-1 + b7CFOVari + b8Sizei,t-1 + εit Trong đó: NetCFO là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trừ đi các khoản đầu tư, ∆Risk Premium là chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu hạng AAA và lãi suất trái phiếu cấp thấp, Recession là biến giả và có giá trị bằng 1 đối với các năm suy thoái như được định nghĩa bởi Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc Gia (National Bureau of Economic Research), M/B là tỷ số giữa giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của tài sản công ty, CFOVar là hệ số của sự biến động đối với dòng tiền công ty và Size là giá trị thị trường của công ty tính bằng đô la Mỹ trong năm 1994.
Hồi quy bao gồm ảnh hưởng cố định theo công ty. Kết quả nghiên cứu của các Tác giả cho thấy với dòng tiền vào dương từ các hoạt động kinh doanh, các công ty có khả năng cao hơn trong việc tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài khi họ có lý do chính đáng cho tài trợ, bởi vì họ có khả năng hoàn trả cho việc tài trợ bên ngoài trong tương lai.