CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm. Bắt đầu xuất hiện ở châu Âu và châu Á cách đây khoảng một vạn năm.
Kỹ thuật chăn nuôi được hoàn thiện theo thời gian, đặc biệt là từ thế kỷ XX đến nay chăn nuôi lợn đã phát triển theo hướng sản xuất công nghiệp cho năng suất và chất lượng cao. Hiện nay lợn được nuôi trên khắp thế giới, tuy nhiên đàn lợn thế giới phân bố không đều ở các châu lục. Trong đó, châu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2%, châu Mỹ 8,6%. Một số quốc gia chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan.
Nói chung ở các nước tiên tiến và công nghiệp đều có chăn nuôi lợn phát triển theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hoá cao (Nguyễn Quang Linh và cs, 2013).2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam Ở Việt Nam chăn nuôi lợn xuất hiện từ lâu đời và trở thành một nghề truyền thống của nông dân, tuy nhiên trình độ chăn nuôi lạc hậu cùng việc sử dụng các giống nguyên thủy sức sản xuất thấp nên hiệu quả không cao. Trong thời gian gần đây do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cùng với các khó khăn của chăn nuôi trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm cho số lượng đầu lợn cả nước bị giảm nhẹ, tuy nhiên việc nâng cao chất lượng giống, kỹ thuật chăn nuôi đảm bảo năng suất và sản lượng thịt lợn luôn có xu hướng tăng lên. Số liệu của tổng cục thống kê năm 2015, trong 4 năm (2010 – 2013) do ảnh hưởng của dịch tai xanh diễn biến phức tạp nên từ năm 2010 – 2013, số đầu lợn cả nước có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước. Nhưng đến năm 2014 số đầu lợn cả nước tăng 2,1% so với năm 2013 chủ yếu do dịch bệnh được khống chế, thức ăn chăn nuôi khá ổn định.750 nghìn con, tăng 3,7% so với năm 2014, chăn nuôi lợn đã có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế.
Diễn biến số lượng đàn lợn và sản lượng thịt lợn Việt Nam Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Chỉ tiêu Đầu lợn (nghìn con) 27.750 Sản lượng thịt (nghìn tấn) 3.492 “Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2015” PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Ở nước ta thịt lợn luôn chiếm một tỷ lệ cao nhất trong tổng sản lượng cơ cấu các loại thịt, khoảng 75 – 78%.1 cho ta thấy, sản lượng thịt lợn qua các năm không ngừng tăng lên. Năm 2013 tổng sản lượng thịt là 3.218 nghìn tấn đến năm 2014 thì sản lượng thịt tăng lên 3.351 (tăng 4,1% so với năm 2013), đến năm 2015 thì sản lượng thịt tăng lên 3. Điều này chủ yếu do kết quả của việc thay thế dần đàn lợn nội năng suất thấp bằng các tổ hợp lai máu ngoại hoặc các giống ngoại thuần có năng suất cao, phẩm chất tốt trong cơ cấu đàn lợn của nước ta trong những năm qua (Lê Đình Phùng, 2009). Trong những năm gần đây, phong trào chăn nuôi lợn ngoại cũng như lợn lai có nhiều máu lợn ngoại đã và đang phát triển mạnh ở nước ta.
Một số giống lợn ngoại như Landrace, Yorkshire, Duroc.… được nhập vào Việt Nam có tác dụng rất lớn trong việc cải tạo năng suất các giống lợn nội, góp phần đẩy mạnh phong trào “ nạc hóa’’ đàn lợn. Do đó, nhiều đề tài nghiên cứu về các giống lợn này nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đàn giống đã và đang được tiến hành. Đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu 1. Lợn Landrace Nguồn gốc: Có nguồn gốc ở Đan Mạch vào khoảng 1924 - 1925, sau đó được đi hầu khắp các nước trên thế giới, sang nước ta tương đối sớm vào năm 1968 - 1970 và tồn tại nhiều nơi cho đến ngày nay.
Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài, tai to, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai, lưng, mông, đùi rất phát triển. Toàn thân có dáng hình thoi nhìn giống như quả thuỷ lôi, đây là giống lợn tiêu biểu cho hướng nạc. Khả năng sản xuất: Lợn có năng suất cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp 2,7 – 3 kg/ kg tăng trọng, sinh trưởng bình quân 700 – 800 g/ ngày, tỷ lệ thịt xẻ từ 58 – 60%. Ở tuổi trưởng thành trọng lượng của lợn đực 280 – 320 kg/ con, lợn cái 220 – 250 kg/ con.
Khả năng thích nghi: Landrace được chọn làm giống để lai tạo trong chương trình nạc hóa đàn lợn ở nước ta bởi những ưu điểm và khả năng thích nghi cao. Tuy nhiên trong điều kiện nóng, ẩm khả năng thích nghi kém hơn lợn Yorkshire. Những nghiên cứu về các giống lợn ngoại thuần thường cho kết quả không cao. Landrace thuần tăng trọng 600-750 gam/ngày, tỉ lệ thịt xẻ 75-82%, tỉ lệ nạc 42-56% (Lê Thanh Hải và cs, 2001).
Lợn Yorkshire Nguồn gốc: là giống lợn được tạo ra từ nước Anh vào khoảng thế kỷ 19 sau đó đi hầu khắp các nước trên thế giới và cho tới ngày nay, đây là một trong những giống lợn ngoại nổi tiếng thế giới. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire có ba loại hình: loại xương to (Đại bạch), loại xương nhỡ (Trung bạch) và loại xương nhỏ (Tiểu bạch). Toàn thân có màu trắng, lông có ánh vàng, đầu nhỏ, dài, tai to, dài, hơi hướng về phía trước, thân dài, lưng hơi cong lên, 4 chân cao khoẻ, vững chắc, vân động tốt, chắc chắn, đi bằng móng, tầm vóc lớn, bụng gọn, khấu đuôi to, thân hình phát triển cân đối. Khả năng sản xuất: Yorkshire cho sản phẩm thịt tốt, ở tuổi trưởng thành lợn đực từ 250 – 300 kg, con cái 200 – 250 kg; mức tăng trưởng 700 – 750 g/ ngày, khả năng tiêu tốn thức ăn từ 2,8 – 3,1 kg/ kg tăng trọng.
Khả năng thích nghi: lợn Yorkshire có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam. Tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của lợn Yorkshire đã được nghiên cứu là 670 gam/con/ngày và 3,1 kg thức ăn/kg (Lê Thanh Hải và cs, 2001). Lợn Duroc Nguồn gốc: Lợn Duroc có nguồn gốc từ miền Đông nước Mỹ và vùng CornBelt. Giống lợn Durk - Jersay có nguồn gốc từ 2 dòng khác biệt Jersay Red của NewJersay và Duroc của NewYork.
Dòng lợn Jersay Red được tạo ra vào những năm 1850 ở vùng NewJersay bởi Clark Pettit. Đặc điểm ngoại hình: Lợn toàn thân có màu hung đỏ (lợn bò), thân hình vững chắc, bốn chân to khoẻ, cao, đi lại vững vàng, tai to ngắn, phía đầu tai gập về phía trước. Đầu to, mõm thẳng và dài vừa phải, đầu mũi và 4 móng chân có màu đen, 2 mắt lanh lợi, bộ phận sinh dục lộ rõ, lưng cong. Giống Duroc hiện nay có mông vai rất nở, nạc cao.
Khả năng sản xuất: Trọng lượng trưởng thành của con đực trên 300kg/con. Sử dụng trong lai hai ba máu hoặc bốn máu giữa các giống ngoại đạt hiệu quả cao về năng suất và chất lượng thịt. Lai với nái địa phương Việt Nam (Móng Cái) không đạt kết quả tốt, da con lai dày, tốc độ lớn không nhanh số con trên ổ không cao.Ở Việt Nam hướng sử dụng lợn Duroc lai với các giống khác tạo lợn thương phẩm.4 Khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt ở lợn lai Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, lai giống là một trong những biện pháp quan trọng để sản xuất thịt lợn có năng suất chất lượng cao ở nhiều nước trên thế giới. Lúc đầu mới chỉ áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp 3, 4, 5 giống lợn và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn hybrid.
Theo Gordon (2004), lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ hơn 50 năm trước. Việc sử dụng lai hai, ba, bốn giống để sản xuất lợn thương phẩm đã trở thành phổ biến (Xue và cs, 1997). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Hiện có nhiều công trình nghiên cứu ở trên nhiều nước về tính năng sản xuất của các giống lợn nhằm nâng cao khả năng sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm, phục vụ lợi ích kinh tế của người chăn nuôi và người tiêu dùng. Khi nghiên cứu tăng trọng của con lai giữa lợn Duroc với Landrace cho thấy tăng trọng đạt 804g/ngày, tiêu tốn 2 kg thức ăn/kg tăng trọng, tỷ lệ thịt nạc/thân thịt xẻ là 51,86%, độ dày mỡ lưng 2,23 cm.
Khi cho lợn đực Pietrain phối với lợn nái F1(Landrace x Yorkshire), tỷ lệ thịt nạc đạt 52-55% và đạt khối lượng 100 kg ở 161 ngày tuổi (Pavlik và cs, 1989). Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cs (2007) cho biết con lai ba giống Duroc x F1(Landrace x Yorkshire) đạt mức tăng trọng cao có mức tăng trọng 634 g/ngày với TTTĂ là 3,30 kg/kg tăng trọng. Trương Hữu Dũng và cs (2004) cho thấy con lai ba máu Duroc x (Yorkshire x Landrace) đạt mức tăng trọng 628,40 – 638,10 g/ngày và tỷ lệ nạc/thịt xẻ 56,86 – 58,71%. Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Kim Dung (2005) cho rằng con lai Duroc x (Yorkshire x Landrace) đạt mức tăng trọng 669,12 g/ngày và tỷ lệ nạc đạt 59,54%.
Tăng trọng của lợn lai D x L Y ở nghiên cứu của Hoàng Nghĩa Duyệt (2008) là 714g/con/ngày. Phùng Thị Vân (2001) cũng cho biết sử dụng đực thuần Duroc lai với nái YL hoặc LY đều cho năng suất sinh trưởng và tỷ lệ nạc cao hơn tổ hợp lai hai máu giữa hai giống Landrace và Yorkshire. Sử dụng đực Duroc như đực cuối cùng, tốc độ sinh trưởng và chi phí thức ăn của tổ hợp lai thương phẩm D x LY cao hơn tổ hợp lai D x YL từ 2,12 – 4,38%. Các nghiên cứu trên trên nhiều giống thuần và lai ngoại trong thời gian qua đã xác định được một số công thức lai tốt, con lai có năng suất và chất lượng thịt cao hơn bố mẹ do chúng tạo được ưu thế lai.
Trong các nghiên cứu đó người ta quan tâm nhiều đến khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn, tỉ lệ thịt xẻ, tỉ lệ nạc và độ dày mỡ lưng của con giống nghiên cứu.