ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng lúa nước cổ xưa nhất thế giới. Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước. Dân số nước ta đến nay hơn 80 triệu người, trong đó dân số ở nông thôn chiếm gần 80% và lực lượng lao động trong nghề trồng lúa chiếm 72% lực lượng lao động cả nước. Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa thu hút đại bộ phận lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Việt Nam tổng diện tích gieo cấy lúa năm 2016 đạt 7,751 triệu ha giảm 76 nghìn ha so với năm 2015. Năng suất lúa trung bình đạt 57,0 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với năm 2015. Sản lượng ước đạt 44,192 triệu tấn, giảm 980 nghìn tấn so với năm 2015. Trong những năm qua, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được ứng dụng trong sản xuất lúa ở nước ta, trong đó nổi bật nhất là công tác chọn tạo giống.
Đã có nhiều giống lúa mới ra đời phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Xu hướng của các nhà tạo giống là tạo ra các giống lúa có năng suất cao, thích ứng rộng, đủ tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu (Tổng cục thống kê, 2017). Những năm gần đây, việc đô thị hóa diễn ra rất nhanh và mạnh mẽ dẫn đến diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình sản xuất lúa gạo ở nước ta. Vì vậy, Đảng và Chính phủ đã ra các nghị quyết phải giữ được diện tích canh tác lúa đến năm 2020 là 3,6 triệu ha.
Tuy nhiên nếu dân số hiện nay ở nước ta là 93 triệu người và đến năm 2030 sẽ là 100 triệu người thì nhu cầu lúa gạo lại tăng lên đáng kể. Mặt khác, do tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra phức tạp. Mưa bão, lũ lụt, hạn hán, dịch hại sâu bệnh, đất nhiễm phèn mặn, ngày càng tăng đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lương thực phải đặt lên hàng đầu. Việc nghiên cứu tìm ra các giống lúa chống chịu với khí hậu, thời tiết xấu đang được thực hiện ráo riết.
Hiện tại, các nhà khoa học đang phát triển và chọn tạo các giống cây trồng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt. Bảo tồn giống chịu với các giống cây trồng địa phương, thành lập ngân hàng giống. Xây dựng và phát triển các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến phù hợp với biến đổi của khí hậu. Trong điều kiện canh tác hiện nay, nông dân vẫn sử dụng nhiều phân bón 1 để tăng năng suất, cấy lúa với mật độ quá dầy.
Nhưng hiệu quả của nó lại không cao, mặt khác còn làm tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên về ảnh hưởng của dinh dưỡng cho lúa, các nghiên cứu chưa đề cập đến nhiều về liều lượng, tỷ lệ và kỹ thuật sử dụng phân bón đa lượng cho từng vùng, từng chất đất và từng giống cụ thể. Việc bón phân không cân đối, kỹ thuật bón chưa hợp lý hạn chế năng suất, không phát huy hết tiềm năng của giống. Để khai thác tiềm năng năng suất của giống, cần tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật thâm canh, trong đó xác định mật độ và lượng phân bón hợp lý là biện pháp kỹ thuật quan trọng.
Việc bố trí mật độ cấy hợp lý nhằm tạo ra mật độ quần thể thích hợp, từ đó nâng cao được hiệu quả quang hợp và làm tăng số bông trên một đơn vị diện tích. Việc xác định liều lượng phân bón thích hợp có vai trò quyết định tới việc nâng cao các yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa, cũng như khả năng chống chịu sâu bệnh của giống. Những năm gần đây, các giống lúa mới đã được đưa vào sản xuất để nâng cao sản lượng lúa gạo. Tuy nhiên, nhiều giống lúa mới chưa đảm bảo được năng suất và phẩm chất gạo hoặc có thời gian sinh trưởng dài.
Vì vậy, nghiên cứu đưa các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất khá, đặc biệt là các giống lúa có chất lượng cao để bổ sung vào cơ cấu giống lúa, kết hợp với sử dụng chế độ bón phân hợp lý để nâng cao sản lượng và giá trị lúa gạo lá rất cần thiết. Từ thực tiễn trên, để có thêm cơ sở khoa học cho công tác khuyến cáo, triển khai ra ngoài sản xuất và các bước nghiên cứu hoàn thiện tiếp theo trong công tác sản xuất hạt giống lúa, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển, năng suất của giống lúa LTH31 tại Gia Lộc – Hải Dương”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định được lượng đạm và mật độ cấy thích hợp cho giống lúa LTH31, có hiệu quả để giới thiệu cho sản xuất lúa tại địa phương. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: các đặc điểm sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa LTH31 ở các lượng đạm và mật độ cấy khác nhau tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Địa điểm nghiên cứu: cánh đồng 5 Viện Cây lương thực – Cây thực phẩm, xã Liên Hồng , Gia Lộc, Hải Dương. 2 - Thời gian nghiên cứu: Tháng 01/2017 - 4/2018. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống về ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ đến tình hình sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa LTH31 từ đó xác định được lượng đạm và mật độ cấy thích hợp cho giống lúa LTH31 trên đồng đất Gia Lộc , Hải Dương.
- Bổ sung tài liệu tham khảo kỹ thuật gieo cấy giống lúa LTH31 phục vụ cho công tác chuyển giao kỹ thuật, mở rộng diện tích gieo trồng giống lúa LTH31 để tiến tới công nhận chính thức giống lúa LTH31 trên địa bàn khu vực tỉnh phía Bắc. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật gieo cấy giống lúa LTH31 trên đồng đất Gia Lộc, Hải Dương và các vùng lân cận có điều kiện sinh thái tương tự. - Đề tài góp phần đa dạng hóa bộ giống lúa thuần phục vụ sản xuất lúa và bước đầu xác định được mật độ và mức đạm bón thích hợp cho giống lúa LTH31 tại Gia Lộc – Hải Dương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc FAO, sản xuất lúa những năm gần đây có nhiều thay đổi cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2014, sản lượng lúa gạo đạt 742,87 triệu tấn tăng 1% so với năm 2013 (739,17 triệu tấn) và có xu thế tăng trong những năm tiếp theo, cụ thể: Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của thế giới qua các năm Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2007 155,09 4,23 656,03 2008 160,06 4,30 688,26 2009 157,98 4,34 685,63 2010 161,56 4,34 701,17 2011 162,71 4,43 720,81 2012 162,26 4,52 733,42 2013 164,26 4,50 739,17 2014 162,91 4,56 742,87 2015 160,76 4,60 739,50 2016 159,81 4,64 741,52 Nguồn: FAO (2017) Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO) năm 2016 sản lượng lúa gạo đạt 741,52 triệu tấn tăng 2,02 triệu tấn so với năm 2015 (739,50 triệu tấn) và có xu thế tăng trong những năm tiếp theo.
Diện tích canh tác lúa gạo trên thế giới từ năm 2017 có xu hướng tăng, đạt cao nhất năm 2013 sau đó có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên sản lượng và năng suất lúa gạo thế giới lại có xu hướng tăng dần. Điều này cho thấy cuộc “Cách mạng xanh” trong nông nghiệp đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến, phù hợp được áp dụng đã góp phần làm cho năng suất và sản lượng lúa tăng lên đáng kể. Tình hình sản xuất lúa các nƣớc hàng đầu thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Tên nƣớc (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) World 162,72 4,56 741,48 India 43,86 3,58 157,20 China 30,57 6,81 208,24 Indonesia 13,80 5,14 70,65 Bangladesh 11,32 4,62 52,33 Thailand 10,66 3,06 32,62 Viet Nam 7,82 5,75 44,97 Myanmar 6,79 3,89 26,42 Philippines 4,74 4,00 18,97 Nigeria 3,10 2,17 6,73 Pakistan 2,89 2,42 7,00 Cambodia 2,86 3,26 9,32 Brazil 2,34 5,20 12,18 Japan 1,58 6,70 10,55 Guinea 1,52 1,30 1,97 Nepal 1,49 3,39 5,05 United States of America 1,19 8,49 10,08 Nguồn: FAO (2016) Châu Á có năng suất lúa chưa cao nhưng lại có diện tích sản xuất lớn nên nó đóng góp một phần quan trọng cho sản lượng lúa thế giới.
Năm 2014, đứng đầu về sản xuất lúa vẫn là 8 nước châu Á bao gồm: India, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thailand, Việt Nam, Myanmar, Philippines. Tuy nhiên chỉ có 5 nước có năng suất cao hơn 5 tấn/ha là Trung Quốc (6,81 tấn/ha), Indonesia (5,14), Việt Nam (5,75 tấn/ha), Japan (6,7 tấn/ha) và Bzazil (5,2 tấn/ha). Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới năm 2014 được tiên đoán thấp hơn 2013 khoảng 0,2% do mùa mưa đến muộn ở vùng Nam Á và vài nơi khác, với sản lượng khoảng 741,48 triệu tấn lúa (hay 496,6 triệu tấn gạo) và được trồng trên gần 162,72 triệu ha. Năng suất lúa trung bình là 4,56 tấn/ha.
Khí hậu gió mùa bất thường làm sản xuất lúa tại India giảm 3% và cũng ảnh hưởng đến một số nước khác, như Cambodia, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Myanmar, Bắc Triều Tiên và Thái Lan. Trong khi đó, khí hậu tương đối thuận lợi 5 tại các nước: Trung Quốc, Indonesia, Myanmar, Malaysia, Nam Hàn, Nigeria và Việt Nam. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Đã từ lâu, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta. Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu.
Từ một nước thiếu lương thực thường xuyên, đến nay sản lượng lúa gạo của nước ta không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn dư để xuất khẩu, thậm chí trong những năm trở lại đây nước ta giữ vững vị trí thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.