Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm ngành chế biến thực phẩm Công nghiệp chế biến thực phẩm (CNCBTP) là một bộ phận của ngành công nghiệp, sử dụng phần lớn nguyên liệu do nông nghiệp cung cấp để chế biến thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị. Trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia, phân loại toàn bộ hoạt động sản xuất ra làm ba nhóm ngành lớn: công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến; và những ngành dịch vụ (sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước). Trong đó, CNCBTP là phân ngành của ngành công nghiệp chế biến. Công nghiệp chế biến thực phẩm rất đa dạng về ngành nghề, sản phẩm, về quy trình công nghệ, mức độ chế biến,.
Căn cứ vào sự giống nhau về công dụng cụ thể của sản phẩm cũng như nguyên liệu chế biến thì CNCBTP bao gồm các ngành kinh tế - kỹ thuật sau: Ngành chế biến lưong thực: xay sát, sản xuất mì ăn liền, làm bánh, bún; Ngành chế biến thuỷ sản; Ngành chế biến thịt, sữa và các sản phẩm từ thịt, sữa; Ngành chế biến nước giải khát: bia, nước ngọt, nước khoáng, chè,.; Ngành chế biến đường, bánh kẹo; Đồ hộp rau, quả; Ngành chế biến dầu ăn, các loại nước chấm, các loại gia vị (Ngô Đình Giao, 1998). 2 Khái niệm về công bằng Công bằng là một phạm trù khoa học được nghiên cứu từ những lĩnh vực khoa học khác nhau, bao gồm triết học, chính trị và luật pháp. Công bằng được xem là một hiện tượng xã hội có ý nghĩa khách quan mà con người cần suy nghĩ, nhận thức và hành động. Vì vậy, công bằng là mục tiêu, là tiêu chí đánh giá sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, xã hội loài người.
Xác lập công bằng dựa trên ý chí chủ quan của con người (các nhóm người, thậm chí cả các giai cấp) là duy tâm và trái với các quy luật tự nhiên, xã hội và tư tưởng. Có lẽ nó chỉ được xác định trong phạm vi và 7 khái niệm. Phạm vi và khái niệm phụ thuộc vào quá trình nhận thức do hoàn cảnh kinh tế và điều kiện sinh hoạt quyết định. Công bằng là sự tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ của các cá nhân trong mối quan hệ với địa vị xã hội của họ, liên quan đến sự hợp lý mà không có bất công.
Công bằng là điều luôn cần thiết để xã hội trở nên văn minh và tốt đẹp hơn. Đối với các nhà tư tưởng chính trị kinh điển như Solon (638-559 TCN), Pericles (495-429 TCN), Tocqueville (1805-1859)., thì dân chủ được coi là là hình thức cơ bản của công bằng, là nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc quan trọng nhất. Bình đẳng là đạo đức của dân chủ, có sự phân biệt giữa công bằng khách quan với tư cách là nguyên tắc tối cao của luật pháp và công bằng chủ quan với tư cách là các thể chế và hệ thống xã hội như luật pháp, nhà nước, nền kinh tế và gia đình. Công bằng là gì? Đe trả lời câu hỏi này thì đó là: Sự bình đẳng - đây là cốt lõi của công bằng, nhưng bình đẳng không có nghĩa là công bằng.
Trong giai đoạn kế tiếp, đặc biệt là trong chủ nghĩa thực chứng, Immanuel Kant (1724-1804) định nghĩa công bằng một cách đơn giản theo nguyên tắc bình đẳng, được biểu thị bằng công thức: Với những cái giống nhau thì nên đối xử giống nhau và với những cái không giống nhau thì nên khác nhau. Hans Kelsen (1881-1973) cho rằng chỉ có nguyên tắc hình thức này mới là khoa học và nội dung của công bằng không phải là đối tượng của khoa học mà là của chính trị. Kelsen tuyên bố, chúng ta không và sẽ không bao giờ biết nội dung của công bằng, vì vậy đối với ông thì triết học pháp quyền hay học thuyết về công bằng chỉ là hình thức. Arthur Kaufmann đã dựa vào tư tưởng của Radbruch, từ đó nghiên cứu thêm, ông cho rằng, công bằng có những khía cạnh như: bình đẳng (công bằng hiểu theo nghĩa hẹp), sự thích hợp với mục tiêu (công bằng xã hội) và an ninh về mặt pháp lý (sức mạnh của luật pháp) (Kaufmann, 1990).
Theo Kaufman, cách hiểu của Aristotle về công bằng mà cốt lõi là sự bình đẳng đó là điểm khởi đầu cho phần lớn triết học pháp quyền ở phương Tây cho đến ngày nay. Aristotle cho rằng bình đẳng thể hiện hình thức ở những mặt khác nhau: Bình đẳng về sự phằn phối (iustitia distributiva) 8 và bình đẳng về mặt bù trừ (iustitia commutativa). Sự bình đẳng bù trừ là giữa những thứ trong tự nhiên khác nhau nhưng khi đứng trước những quy định lại hoàn toàn bình đẳng. Như vậy, công bằng bù trừ có nghĩa là: Trước các đối tượng bình đẳng về mặt pháp luật thì phải có sự bình đẳng tuyệt đối (như giá trị hàng hóa và giá cả, thiệt hại và khắc phục bồi thường).
Tưong quan của sự bình đẳng về sự phân phối là việc đối xử như nhau giữa cá nhằn hay một tập thể với nhau, phân chia quyền lợi cũng như trách nhiệm theo những tiêu chí phù hợp, khả năng và nhu cầu (Kaufman, 1990). Ket luận: Ket hợp các phân tích, kế thừa có chọn lọc những tư tưởng trước đây, Kaufman đã phát hiện ra khái niệm công bằng toàn diện hon, đó là: Công bằng nghĩa là sự công bình, công bằng xã hội và sự chắc chắn của pháp lý. Đầu tiên, dựa trên lý thuyết về công bằng thì công bằng tổ chức là khi nhân viên mang lại giá trị gia tăng cho tổ chức như lợi nhuận, cống hiến, kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức,. và đồng thời, người lao động cũng mong muốn được công nhận một cách chính xác thỏa đáng bởi các kết quả mà họ mang đối vói tổ chức (Lambert, 2003).
Công bằng tổ chức là yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của người làm công đối vói các tổ chức, doanh nghiệp (Ưsmani và Jamal, 2013). (Greenberg, 1990) giói thiệu: Trong một tổ chức, sự công bằng đề cập đến mức độ của người lao động tin rằng các quyết định mà tổ chức họ làm việc đưa ra là đảm bảo công bằng. Coetzee, (2006) và Heidari cùng cộng sự (2012) nhận thấy rằng việc đối xử các mối quan hệ bình đẳng sẽ dẫn đến việc kết nối mọi người tốt hon và các hoạt động trong tổ chức thuận lợi hon. Do đó, vói bối cảnh tình hình thực tế hiện nay, trong một tập thể, sự bình đẳng sẽ luôn giữ một vị trí quan trọng và cần thiết.
Một tập thể có sự công bằng sẽ tác động đáng kể đến cách nhân viên cư xử cũng như cảm nhận của họ khi thực hiện công việc. Điều này có thể mang lại tích cực hoặc tiêu cực đến lợi nhuận của tổ chức (Ưsmani và Jamal, 2013). Những hàm ý trên đưa ra cho các cá nhân hay tổ chức nói chung một lời cảnh báo rất quan trọng (Yeặil và Dereli, 2013). 9 Khái niệm công bằng tổ chức về mặt lý thuyết và thực tiễn đã được phát triển và nghiên cứu từ lâu.
Trong một tổ chức, mặc dù sự công bằng có thể được giải thích theo nhiều cách, nhưng sự công bằng trong tổ chức về co bản được hiểu là "cảm xúc" của mọi người đối với sự bình đẳng tại noi mà họ đang lao động. Theo Whisenant và Smucker (2009), bình đẳng về tổ chức được phân làm ba phần: Bình đẳng theo sự phân phối, công bình theo thủ tục và bình đẳng hành vi giữa các nhà quản lý và nhân viên. Theo Colquitt (2001), công bằng tổ chức bao gồm bốn thành phần: công bằng phân phối, công bằng theo thủ tục, công bằng hành vi, và công bằng thông tin giữa người sử dụng lao động và người lao động. Nghiên cứu của Colquitt (2001) đã đo lường các thành phần của sự công bằng trong tổ chức để đánh giá tác động của việc nhận định về tính bình đẳng tại nơi lao động với quyết định ngừng tham gia hoạt động tại tổ chức của người lao động.
Do đó, các yếu tố tác động của sự công bằng xuất phát dựa trên nền tảng tâm lý của những người làm việc trong một tập thể gồm có: Công bằng về mặt thủ tục, công bằng trong các mối quan hệ và tương tác cá nhân (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Ngọc Lâm, 2021). Công bằng phân phối đề cập đến sự bình đẳng trong quá trình phân phối sản phẩm của các thành viên ở cùng một công ty, doanh nghiệp hoặc môi trường làm việc (Roemer, 1998), (Adams, 1963). Tính bình đẳng về mặt thủ tục của một tổ chức là tính trung lập trong các quyết định cho các nhân viên trong tập thể đó, cũng như trong việc xây dựng và ban hành các quy tắc nơi làm việc (Diamond và Zeisel, 1978). Colquitt (2001) cho rằng: Công bằng quan hệ tập trung làm rõ sự quan trọng giữa chất lượng trong các mối quan hệ với các hành vi của những thành viên trong tổ chức.
Một hàm ý nữa được ghi nhận bởi Colquitt và cộng sự (2001) cũng phát hiện ra điểm mới, sự bình đẳng trong các mối quan hệ cũng như trong trao đổi thông tin giữa các chủ thể là hai yếu tố cơ bản của hành vi tổ chức. Sự công bằng đó được cho là có liên quan đến tính đầy đủ và độ tin cậy được cảm nhận từ nhân viên đối với việc ban hành thông tin của quản lý cấp cao. Như vậy, sự công bằng ở trong tổ chức là yếu tố đề cập đến việc nhận thức của các cá nhân về cách nhìn nhận môi trường làm việc của họ bao gồm: Phân phối, chính 10 trị, quan hệ làm việc giữa tổ chức/ người quản lý và tổ chức, hành xử với người lao động và trao đổi dữ liệu một cách bình đẳng. Lý thuyết công bằng khẳng định rằng người lao động sẽ so sánh những gì họ bỏ ra cho một công việc (đầu vào) với những gì họ nhận lại (đầu ra), rồi so sánh tỷ lệ đầu vào - đầu ra của đầu ra của họ vói tỷ lệ đầu vào-đầu ra của người khác.
Neu tỷ lệ của họ bằng với tỷ lệ của những người khác, thì tình hình hiện tại được cho là công bang. Neu tỷ lệ không bằng nhau, thì có sự bất công. Khi tồn tại những điều kiện không công bằng, nhân viên sẽ làm việc để khắc phục chúng (Adams, 1963).