Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan về giống gà dé ISA Brown 1. Gà Isa Brown Giống Isa Brown có nguồn gốc tại Pháp và được phát triển vào những năm 1978, đây là gà mái lai giữa Rhode Island Reds và Rhode Island Whites, có lông màu nâu. Một số thông số về gà ISA Brown theo Isa Brown Management Guide, 2013 Bảng 1.
Một số chỉ số trung bình của giống ga Isa Brown giai đoạn 44 -54 tuần tuôi Chỉ tiêu Đơn vị Thông số Cân nặng Kg/con 1,89 Tỉ lệ đẻ % 89,5 Khối lượng trứng g/trimg 65,08 HSCHTA Kg/kg tring 2,03 Luong 4n an vao g/con/ngay 115 Chi số Haugh Khoảng 81-82 (Nguon: ISA Brown Management Guide, 2013) Hình 1. Gà mái giống ISA Brown 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và sức khoẻ của gà đẻ trứng Năng suất trứng là số lượng trứng sản xuất được trong một đơn vị thời gian cụ thể (một tháng, một năm. Thông thường, chu kì cho trứng của gà khoảng 12 tháng, gà bắt đầu cho trứng khi đạt từ 18 — 22 tuần tuổi và phụ thuộc vào giống gà và theo mùa.
07 r 100 f TƯỜNG Tỉ lệ đẻ =| i — re rg ‡ sỉ «+3 Fe] | he Khôi lượng trứng ÿ ta Ð2 ~ (Í kế “4 i 2 a 3 “ o on 44 0 =) e |{ = `.© Zz fr H 2 mie P20 ị ‹ ? 4 + ° bạ T T T T 9 2 k2 “2 ¬ #® eo Ld sọ Tuân tuôi Hình 1. Đường cong năng suất cho trứng của ga đẻ thương pham (Nguồn: Jacob và ctv, 2014) Năng suất trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, ảnh hưởng đến năng suất ở mức độ nhất định như các yếu tố di truyền - giống, độ tuổi, chế độ dinh dưỡng, điều kiện chăn nuôi và tình hình dịch bệnh. Các yếu tố đi truyền - giống Tùy vào giống gà thì năng suất sản xuất cũng khác nhau. Các giống gà chuyên trứng thường có sản lượng trứng cao hơn các giống gà kiêm dụng và chuyên thịt, các giống gà nội địa thường có sản lượng trứng thấp hơn so với các giống gà nhập ngoại.
Mặt khác, năng suất trứng của gà giảm dan theo tudi. Độ tuổi: Tuổi thành thục có ảnh hưởng đến kha năng sản xuất trứng của gia cam. Thông thường ở ga đẻ độ tuổi thành thục khoảng 18 tuần tuổi. Ngoài ra, tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giông, loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm, cường độ chiếu sáng, tầm vóc.
Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt Nguyễn Thi Mai và ctv, 2009) Chế độ dinh dưỡng Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng sản xuất trứng. Gia cầm muốn có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải đảm bảo một khẩu phan ăn đầy đủ, cân bang chất dinh dưỡng theo nhu cầu của từng giai đoạn đẻ. Tuy nhiên cần giới hạn lượng thức ăn ăn vào để tránh hiện tượng gà tích mỡ và giảm đẻ. Mỗi giống gà đẻ trứng sẽ có một mức lượng ăn phù hợp, đối với giống Isa Brown thì lượng ăn cần thiết là 112 g/con/ngày và giai đoạn 44 -54 tuần tuôi là 115 g/con/ngày (ISA Brown Management Guide, 2013).
Tiêu khí hậu chuồng nuôi Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết tới sản lượng trứng của gia cầm. Nhiệt độ khuyến cáo phù hợp cho gà đẻ trứng là 25°C. Nhiệt độ trên 25°C gà bị stress nhiệt, uống nước nhiều, giảm lượng thức ăn ăn vào, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất trứng (ISA Brown Management Guide, 2013). Liên quan chặt chẽ với nhiệt độ là độ âm không khí của chuồng nuôi.
Độ ẩm thích hợp từ 60 - 70%. Độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các loại vi sinh vật gây bệnh phát triển, độ âm thấp sẽ tăng lượng bụi trong chuồng nuôi. Mặt khác, độ âm cao kết hợp với nhiệt độ cao sẽ gây stress nhiệt làm giảm năng suất sản xuất và sinh trưởng của gia cầm, từ đó giảm lợi nhuận. Bên cạnh đó, cần kết hợp với độ thông gió trong chuồng nuôi thường xuyên dé giảm nhiệt độ, am độ, lượng khí độc và lượng bụi sinh ra ISA Brown Management Guide, 2013).
Một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất trứng đó là ánh sáng. Ngoài việc dựa vào ánh sáng dé tìm thức ăn, nước uống, nó còn kích thích sự thành thục trên gà. Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009) võng mạc của gia cầm rất nhạy cảm với kích thích của ánh sáng. Dé kích thích cơ quan sinh dục phát triển và sản xuất, các trang trại cần sử dụng ánh sáng ấm (thường là màu đỏ và cam).
Ở giai đoạn hậu bị, kích thích gà ăn nhiêu, phát triển và giảm stress thì sử dụng ánh sáng lạnh với nhiều sắc xanh. Can tăng cường ánh sáng đỏ đối với gà mái đẻ nhất là giai đoạn chuan bi vào đẻ (giai đoạn tiền đẻ trứng). Khi gà bắt đầu lên lồng đẻ, thời gian chiếu sáng có thé duy trì từ 10 — 12 giờ/ ngày, trong giai đoạn đẻ có thé tăng lên đến 16 giờ/ ngày (nếu tỷ lệ đẻ khoảng 50%). Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trứng Chất lượng trứng cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhất các vấn đề trong ngành chăn nuôi gia cầm lấy trứng, ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh tế của việc sản xuất trứng và khả năng ấp nở.
Vỏ có độ bền cao và ngoại hình bình thường là điều cần thiết dé bảo vệ chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh như Saửnonella spp. Những điều này đã được ước tính rằng trứng có vỏ bị hư hỏng hoặc xấu sẽ làm giảm 6 —10% tổng số trứng được sản xuat, từ đó dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn (Washburn, 1982; Roland, 1988). Hau hết các nghiên cứu đều cho rang chất lượng trứng bị ảnh hưởng rất lớn bởi khẩu phần thức ăn (Nys, 1999). Theo Roberts (2004) thì chất lượng trứng sẽ được đánh giá qua hai tiêu chí là hình thái bên ngoài và chất lượng nội tại bên trong.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vỏ. Đầu tiên, các giống gà khác nhau sẽ tạo ra những quả trứng với chất lượng, vỏ, khối lượng và năng suất rất khác nhau (Curtis và ctv, 1985). Về tuổi, có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tuổi ảnh hưởng lên chất lượng vỏ trứng, tuổi gà càng cao thì vỏ trứng càng mỏng (Nys, 1986). Nguyên nhân được đưa ra là gà mái già đi sẽ bị hạn chế khả năng tạo ra enzyme 25 - hydroxycholecalciferol-1-hydroxylase, một enzyme liên quan đến việc cân bằng và hấp thu canxi (Elaroussi, 1993).
Về dinh dưỡng, cần cấp đầy đủ dinh dưỡng dé gà có thé tạo vỏ, đặc biệt là cân bằng canxi và phospho vì khẩu phan ăn nhiều phospho sẽ gây mỏng vỏ trứng do phospho hạn chế hấp thu canxi từ ruột (Selle và Ravindran, 2007). Các khoáng chất đa lượng canxi (Ca) và phốt pho (P) rất cần thiết cho gà đẻ dé hình thành và duy trì bộ xương và hình thành vỏ trứng. Sự thiếu hụt một trong hai chất này trong khâu phần ăn của gia cầm sẽ hạn chế việc sử dụng loại kia vì chúng có liên quan chặt chẽ với nhau. Mặt khác, nếu lượng canxi quá nhiều trong khẩu phần sẽ gây hư hại đến thận .Vitamin D cũng rất cần thiết cho gà đẻ, giúp gà chuyền hóa canxi dé góp phan hình thành nên vỏ trứng.
Các yếu tố khác như nước, stress, độc tố nắm mốc cũng ảnh hưởng đến chất lượng vỏ trứng thông qua việc giảm lượng thức ăn ăn vào từ đó gây thiếu hụt dinh dưỡng (Roberts, 2004). Chất lượng bên trong quả trứng cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng như sau: Thời gian bảo quản trứng dài, nhiệt độ cao sẽ làm giảm độ cao lòng trắng đặc, chi số Haugh, tăng thất thoát CO, ảnh hưởng hưởng đến chất lượng trứng (Ahmadi và Rahimi, 2011). Trong suốt quá trình lưu trữ, pH của lòng trắng đặc tăng, làm giảm chất lượng lòng trắng đặc (Khatun và ctv, 2016). Tuy nhiên, việc bảo quản lạnh với CO›sẽ giúp cải thiện chỉ số Haugh đáng kê (Keener và ctv, 2000).
Ngoai ra, bảo quan trứng ở nhiệt độ 7 — 13°C và độ ẩm 50 — 60 % cũng sẽ giúp việc thoái hóa lòng trắng diễn ra chậm hơn, giúp duy trì chất lượng lòng trắng lâu hơn (Natalie, 2009). Tổng quan về chitosan 1. Chitosan là gi? Chitin là tiền chất của chitosan, một polymer sinh học nhiều thứ hai trong tự nhiên chỉ sau cenllulose, là thành phần chính cấu tạo nên lớp vỏ của các loài động vật giáp xác, côn trùng, nắm. Chitin không hòa tan trong các dung môi thông thường do có cau trúc tinh thé cao, acetamido và liên kết hydro giữa các nhóm hydroxyl va carbonyl.
Do đó, khó hòa tan, khả năng phân hủy sinh học kém và các yếu tố khác hạn chế ứng dụng cua chitin (Wang va ctv, 2020). Chitosan là sản phẩm của quá trình tách nhóm acetyl khỏi mach chitin (deacetyl hóa), chitin ở các mức độ khác nhau của polysaccharide mach thắng được cấu tạo từ các D-glucosamine(don vị đã deacetyl hóa) và N-acetyl-D- Glucosamine liên kết tại vị trí B-(1-4). Chitosan thường ở dang vay hoặc dạng bột có màu trắng ngà. ¢H20H CH20H Chinn CH2OH CHzOH Hình 1.
Cấu tao của chitin va chitosan (Nguon: Xing, 2014) Việc phát hiện ra chitin vào năm 1811 là do Henri Braconnot đã thu hút sự quan tâm lớn của giới khoa học và công nghiệp từ cuối những năm 1970 do cấu trúc dai phân tử đặc biệt, kha năng tương thích sinh hoc, khả năng phân hủy sinh học va các đặc tính chức năng nội tại khác (Morin-Crini va ctv, 2019). Hoạt tính kháng khuẩn của Chitosan thường bị ảnh hưởng bởi khối lượng phân tử và độ acetyl hóa. Cụ thé, Keisuke va ctv (1997) phat hién ra rang nó có thé thúc day sự phát triển của Escherichia coli (E. coli) va Staphylococcus aureus (S.
Aureus ) khi khối lượng phân tử của chitosan nhỏ hơn 5 kDa. Tuy nhiên, khi khối lượng phân tử lớn hơn 9,3 kDa thì nó có tác dụng kháng khuẩn hoàn toàn. Mohan va ctv (2012), báo cáo rằng chitosan với mức độ deacetyl hóa là 83% có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn một cách hiệu quả. Khối lượng phân tử (Mw) của chitosan là một thông số cấu trúc quan trong, nó quyết định tính chất của chitosan như khả năng kết dính, tạo mảng, tạo gel, khả năng hấp phụ chất màu, đặc biệt là khả năng ức chế vi sinh vật.
Chitosan có phân tử lượng càng lớn thi có độ nhớt càng cao. Thông thường, phân tử lượng cua chitosan nam trong khoảng từ 100. Phân tử lượng của chitosan phụ thuộc vao nguồn chitin, điều kiện deacetyl và thường thì rất khó kiểm soát.