Đặt vấn đề Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 1,6 triệu ha đất phèn được phân bố tập trung ở các vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau và một phần phía Tây Nam sông Hậu (Nguyễn Ngọc Bình, 1996). Do vậy, cây Tràm có khả năng thích ứng tốt với điều kiện đất phèn được người dân trồng, khai thác và sử dụng đa mục đích như thân cây làm ctr, lá dùng dé chưng cất tinh dầu va hoa cho ong lay mật (Duong Văn Ni £/ al. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp tỉnh Long An từ 2004 tới năm 2016, diện tích trồng rừng Tràm giảm 45. Nguyên nhân chính là do người dân trồng Tràm ta (M.
cajuputi) theo phương thức quảng canh là chủ yếu, cây giống chưa được tuyén chọn; chưa áp dụng kỹ thuật làm đất và kỹ thuật quan lý lập địa tiên tiễn; kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng còn nhiều hạn chế dẫn đến năng suất, chất lượng rừng không cao, dẫn đến trồng Tràm đã không mang lại lợi nhuận. Khi người dân chuyên đôi từ cây Tràm sang cây trồng nông nghiệp khác như lúa, khóm (dứa), dưa hau,. xảy ra nhiều bat cập và rủi ro như: năng suất không cao do các loài cây không phù hợp với đất phèn có độ pH thấp, chi phí đầu tư lớn, đầu ra bap bênh thiếu ôn định, một số nơi đã bị ngập lụt mat trắng do biến đôi khí hậu. leucadendra) là loài cây nhập nội, phát triển nhanh, chịu được đất phèn và ngập nước theo mùa, có khả năng tái sinh chồi.
Đây là loài có phân bố tự nhiên ở Australia, Papua New Guinea và Indonesia. Cây thường có kích thước lớn, có thé đạt 40 m về chiều cao và đạt tới 1,5 m về đường kính ngang ngực. Cây có lá xanh lục bóng, thuôn dài và rủ, vỏ thân dày có màu trắng. Chúng được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: làm cừ, đồ mộc, than, nguyên liệu giấy, nguyên liệu ván MDF, lấy củi, cây che bóng và hoa lay mật ong (Phân viện Khoa học lâm nghiệp Nam Bộ, 2006).
Ngày 8 tháng 8 năm 2000, Bộ Nông nghiệp &PTNT đã có quyết định số 3090/QĐ-BNN-KHCN công nhận các xuất xứ Tràm (M. leucadendra) trong đó có xuất xứ Cambridge Gulf, WA (18909); Weipa, QLD (14147); Kuru Oriomo, PNG (18960) là các giống tiến bộ kỹ thuật (Võ Đại Hải và Đoàn Ngọc Dao, 2013). Qua các khảo nghiệm của Hoàng Chương (1996) và Nguyễn Thị Bích Thủy (1999) cho thay khả năng sinh trưởng của giống Tràm (M. leucadendra) nhập nội là vượt trội so với giống Tràm ta ban địa (M.
Mặc du vậy, cho đến nay rat ít thông tin cũng như mô hình thí nghiệm trồng Tràm (M. leucadendra) có điện tích đủ lớn dé làm cơ sở cho việc so sánh năng suất và hiệu quả kinh tế đối với giống Tràm. Dự án “Phát triển kỹ thuật trồng rừng Tràm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 1997 - 2002” hợp tác giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bán (JICA) và Phân viện Nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ được triển khai tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đã mang lại nhiều thành tựu to lớn về kỹ thuật sản xuất cây giống Tràm (M. leucadendra) bằng túi bau tại vườn ươm, kỹ thuật xử lý thực bì, các biện pháp lên líp trồng rừng.
Tuy nhiên, cho đến nay nhận thấy rằng một số kỹ thuật lên líp cho tỷ lệ sử dụng đất không còn phù hợp và các mô hình trồng rừng chủ yếu tập trung nghiên cứu trên đối tượng là loài Tràm ta. Hiện nay, có nhiều nhà máy chế biến gỗ với qui mô lớn đã được xây dựng trong thời gian qua như: Nhà máy sản xuất van MDF (VECO) của tập đoàn SUMITOMO Nhật Bản với công suất 120.000 m° gỗ MDF/năm; Nhà máy sản xuất viên nén năng lượng VINAGE đóng tại Bến Lức - Long An; Nhà máy chế biến gỗ MDF Kiên Giang với công suất thiết kế là 75.000 m> gỗ MDF/năm đặt tại khu công nghiệp Thạnh Lộc, Châu Thành- Kiên Giang (Trần Lê Huy và Tô Xuân Phúc, 2013). Trước nhu cầu sử dụng gỗ nội địa ngày càng tăng, công nghiệp chế biến gỗ tăng trưởng mạnh, từ đó giá rừng Tràm đã tăng trở lại (tại thị trường hiện tại, giá bán cây đứng đạt trên 120 triệu/ha) và điều này đã thu hút và tạo động lực cho người dân tiếp tục trồng rừng tràm trở lại ở đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ, đồng thời cung cấp đủ nguồn cừ tram làm xây dựng trong vùng, tạo việc làm, giúp người trồng rừng kinh doanh đạt hiệu quả cao và bền vững; cung cấp thông tin khoa học cho các nhà nghiên cứu và quản lý lâm nghiệp thì việc triển khai đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của chiều cao líp trồng đến cấu trúc, sinh trưởng và năng suất của rừng trồng Tràm (Melaleuca leucadendra L.) tai Thạnh Hóa, tỉnh Long An” là hết sức cần thiết.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Xác định ảnh hưởng của chiêu cao líp trông đên câu trúc, sinh trưởng và năng suất của loài Tràm trồng (Melaleuca leucadendra L.) ở Thanh Hóa, Long An .2 Mục tiêu cụ thể Xác định cấu trúc của rừng trồng Tràm (Melaleuca leucadendra L.) tại Thanh Hóa, tỉnh Long An trên các độ cao líp.
Xác định ảnh hưởng của độ cao líp đến sinh trưởng và năng suất của rừng trồng Tràm (Melaleuca leucadendra L.) tại Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm tăng năng suất của rừng trồng Tram (Melaleuca leucadendra L.) tai Thạnh Hoa, tỉnh Long An.3 Pham vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sinh trưởng của rừng Tràm trồng trên những độ cao lip khác nhau. Dia điểm nghiên cứu được thực hiện tại Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng § năm 2023.4 Ý nghĩa của đề tài Về lý luận, đề tài cung cấp những thông tin để xác định đặc tính sinh thái của rừng Tràm trồng ở miền Tây Nam Bộ.
Về thực tiễn, đề tài cung cấp những căn cứ khoa học để làm cơ sở khoa học cho xây dựng quá trình sinh trưởng và biện pháp nâng cao năng suât rừng trông Tràm. Chương 2 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Thông tin chung về cây Tram lá dài (Melaleuca leucadendra L.): Tram lá dai có tên khoa học là Melaleuca leucadendra L., tên đồng nghĩa là Myrtus leucadendron, thuộc họ Sim (Myrtaceace) (Brophy và cộng su, 2013; Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến, 2015). Tràm lá dài là cây gỗ trung bình tới lớn, đường kính tới 60 cm, cây cao 20 - 30 m. Đã có ghi nhận được cây cao tới 43 m và đường kính trên 100 cm ở Cape York, Queensland, Australia.
Đặc trưng nổi bật là cây có tán rủ do các cánh nhánh và lá rủ xuống, vỏ thân màu trắng sáng. Lá cây trưởng thành thường mọc cách, dạng mác, cuống ngắn, phiến lá dài 10 - 20 cm, màu xanh sáng, gân dọc 5. Hoa tự dang bông dai 6-10 cm. Hoa màu trắng nhạt hay trắng kem.
Qua nang nhỏ, hình cầu hoặc gần cầu, chứa nhiều hạt rất nhỏ (Hình 2. Đặc điểm cây Tràm lá dài (Melaleuca leucadendra L.) trồng trên đất ngập phèn tại Trạm Thực Nghiệm Lâm nghiệp Thạnh Hóa - Long An. Tràm lá dài phân bồ tự nhiên ở phía Tây và phía Bắc- Australia, Papua New Guinea và Irian Jaya- Indonesia. Gỗ Tram lá dai có độ cứng trung bình, có khối lượng thé tích khi say khô ngoài trời từ 0,65 g/cm? đến 0,83 g/cm, trung bình là 0,75 g/cm’; Giá trị trung bình giới hạn bền khi uốn và mô men đàn hồi (MOR và MOE) là 1.299 kgf/cm? và 149.000 kgfcm?; Ứng ứng suất nén đọc thé đạt 637 kgf/em? (Đỗ Van Ban, 2002).
Gỗ Tràm lá dai có thé làm ctr trong xây dựng, sản xuất đồ mộc, ván ghép thanh, ván nhân tạo và làm nguyên liệu bột giấy. Lá dung chiết xuất tinh dau tram có thé đạt 1,8 cineole (10 - 45%). Tràm lá dài được trồng làm cây xanh đô thị tại Australia (Brophy và cộng sự, 2013). Khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài tràm, trong đó có Tràm lá dài được thực hiện từ năm 1993 ở Việt Nam.
Kết quả cho thấy sinh trưởng của Tram lá dai nhanh hơn Tràm ta, nhất là khi được trồng trên líp (Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến, 2015). Hiện nay, diện tích trồng Tràm lá dài ở đồng bằng sông Cửu Long ước tính khoảng 5.000 ha tập trung chủ yếu ở Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Sóc Trăng và Cà Mau.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2.1 Nghiên cứu về giống Chọn giống và nhân giống cây rừng là một trong những khâu quan trọng quyết định cả về số lượng lẫn về chất lượng của rừng trồng. Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống cây tram từ hạt hay từ hom đã được triển khai từ nhiều thập kỷ trước đây (Venning, 1988; Doran, 1990 & 1997; Wrigley va Fagg, 1993 & 2007). Qua đó, một số tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nhân giống tràm phục vụ cho cho trồng rừng phủ xanh, trồng cây đô thị và trang trại, chọn giống tram sản xuất tinh dầu đã được xuất ban.
Trong những năm 1980, kết quả khảo nghiệm một số loài và xuất xứ tràm với mục tiêu sử dụng gỗ tại Wongi Toolara và Queensland (Australia) cho thấy ở tuôi 3 loài Melaleuca leucadendra có tỷ lệ sông cao nhất (96 %), tăng trưởng chiều cao bình quân đạt 1,0 m/năm, tiếp sau là loài M. viridiflora, các loài tram khác trong cùng khảo nghiệm đều có sinh trưởng kém hơn hai loài này (Ryan và Bell, 1989). Ngược lại, Khongsak (1989) đã tiễn hành khảo nghiệm 11 loài tram tại Thái Lan cho kết quả đã chọn được loài Melaleuca symphycarpa và loài M. dealbata với tỷ lệ sông khá cao (60 - 90%) và sinh trưởng tốt.
Tuy nhiên, loài Ä⁄. leucadendra không phù hợp tại một số vùng sinh thái chính tại Thái Lan (Khongsak, 1989). Ở Kenya, sản xuất cây giống tràm từ hạt gặp rất nhiều khó khăn, do hạt giống có tỷ lệ nảy mầm thấp, cây con sinh trưởng kém (Milimo, 1981). Tương tự khảo nghiện các giống tram tai Zimbabwe, loài M.
leucadendra có tỷ lệ sống thấp (36%). Chứng tỏ rằng loài Tràm này không thích hợp cho trồng rừng ở Zimbabwe (Gwaze, 1989). Nghiên cứu khảo nghiệm 13 loài cây trồng trên đất phèn tại tỉnh Narathiwat, Thái Lan. Kết quả cho thấy loài Tràm (Melaleuca cajuputi) là loài sinh trưởng nhanh nhất, tại tuổi 5 chiều cao đạt 5,7 m và đường kính là 10,2 em và sau 13 năm trồng sinh trưởng chiều cao đạt 9,7 m và đường kính dat 20,3 cm (Luangjame, 1999).
Khi so sánh sinh trưởng của loài Tràm (1M.