Đặt vấn đề Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn từ nay đến 2020 đã đề ra mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ phải đạt 5,56 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của kinh ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảngtrên 30%/năm. Con số này cho thấy nhu cầu nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh từ nay đến năm 2020. Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên thị trường nội địa cũng được dự báo sẽ liên tục tăng.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng của xã hội, ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọn các loài cây mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Tại tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua công tác trồng rừng đã được các cấp chính quyền và người dân quan tâm nhiều hơn, diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất. Theo báo cáo về diễn biến tài nguyên rừng của tỉnh Thái Nguyên, năm 2007 toàn tỉnh có 164.355 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 100.509 ha, rừng trồng 63.846 ha, tổng trữ lượng gỗ trên 3 triệu m³ và có khoảng 24 triệu cây tre nứa. Hàng năm toàn tỉnh khai thác khoảng 20.000 m³ gỗ và 650 tấn tre nứa, lượng lâm sản này một phần phục vụ cho nhu cầu sử dụng của ngườ idân trong vùng, phần còn lại cung cấp nguyên liệu cho Công ty ván dăm Thái Nguyên và Nhà máy giấy Bãi Bằng.
Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy mạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được lựa chọn là cây Keo và Keo tai tượng. Mặc dù phần lớn diện tích đất trồng rừng sản xuất là trồng 2 loài cây trên, nhưng theo đánh giá sơ bộ của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Nguyên thì lượng tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 16 -18m³/ha/năm. Với lượng 1 h tăng trưởng như vậy thì khả năng đáp ứng nhu cầu về gỗ nguyên liệu cho địa phương là không đủ. Do đó, cần phải nâng cao được năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng.
Để đáp ứng được các yêu cầu trên cần phải lựa chọn giống tốt, điều kiện lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp. Vì vậy, em đã tiến hành đề tài “Thực hiện quy trình thiết kế trồng và chăm sóc rừng trồng tại Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên của đội sản xuất xã Tân Lợi huyện Đồng hỷ ” 1.Mục tiêu và yêu cầu 1.Mục tiêu - Nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế trong triển khai quy thiết kế trồng và chăm sóc rừng. - Đánh giá các điều kiện thực tế trong trồng và chăm sóc rừng tại Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên trên các cơ sở quy trình đã ban hành. - Xác định được các thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện công việc.Yêu cầu - Nắm được các quy trình trồng rừng, cơ sở lập dự toán chi phí bình quân cho 1 ha trồng rừng tại Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên.
- Hiểu và giải quyết được các công việc ngoài thực tế từ việc tham gia vào quy trình thực hiện tại công ty. 2 h PHẦN 2 :TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tài liệu về vấn đề thực hiện Khái quát về cây keo lai Keo lai (Acacia hybrid) là sự kết hợp giữa hai loài: keo lá tràm (Acacia Auriculiomis) và keo tai tượng (Acacia Mangium) và được tuyển chọn những cây đầu dòng có năng suất cao. Keo lai là tên gọi tắt để chỉ giống tự nhiên giữa keo tai tượng (Acacia Mangium) và keo lá tràm (Acacia auriliformis), giống lai này được phát hiện ở Malaysia, Úc, papua new Guinea và được trồng thí nghiệm ở một số nước như Thái Lan, Đài Loan, Indonesia.
Ở Việt Nam giống lai tự nhiên giữa keo lai tai tượng và keo lá tràm (Acacia Mangium x Acacia auriliformis) được phát hiện từ năm 1992. Những cây lai này (gọi tắt là keo lai) được phát hiện tại các vùng như Tân Tạo, Sông Mây, Trị An, Tráng Bom, ở Đông Nam Bộ và Ba Vì (Hà Tây) Hòa Bình, Tuyên Quang. và có những nghiêm cứu đầu tiên (Lê Đình Khả, 1999). Keo lai ưu việt hơn các loài bố mẹ và một số cây trồng rừng khác là: - Đặc tính sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối ( thân cây thẳng đứng, cành nhánh nhỏ, sức khỏe tốt), biên độ sinh thái rộng được trồng ở nhiều vùng sinh thái của nước ta: Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
- Khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích nghi với nhiều điều kiện lập địa và các loại đất khác nhau. - Keo lai còn có tác dụng cải tạo đất, cải tại môi trường thông qua khả năng cố định đạm, hấp thụ cacbon và lượng cành khô rụng hàng năm trả lại cho đất lượng chất hữu cơ đáng kẻ - Rừng trồng keo lai cũng được đánh giá là cây trồng mang lai hiệu quả kinh tế cao, nhanh thu hồi vốn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn các loài cây 3 h trồng rừng khác (từ 5 đến 7 năm đã được khai thác) Cây có thể cao đến 25-30 m, đường kính lên đến 60-80 cm. Cây ưu sang, mọc nhanh, có khả năng cải tao đất, chống xói mòn, chống chay rừng. Gỗ thẳng, màu vàng trắng có vân, có gác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu.
Cây keo lai có thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện: Lượng mưa từ 1500-2500 mm/ năm, độ pH từ 3-7, nhiệt độ bình quân 22°c, tối thích từ 24- 28°c, giới hạn tối đa 40°c, trên các loại đất ferali, tầng dày tối thiểu 75 cm, tối ưu 4- 50 cm. Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không bị ngập nước đều có thể trồng được. Tình hình nghiêm cứu trên thế giới và trong nước 2. Trên thế giới Giống keo lai tự nhiện này được sự phát hiện bởi Messir Herbem và shin năm 1972 trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia.
tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa keo lai tai tượng và keo lá tràm tạo ra keo lai có sức sinh trưởng mạnh hơn bố mẹ. Đến tháng 7 năm 1978 đã kết luận trên đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật Queensland- Australia. Ngoài ra keo lai tự nhiên còn phát hiện ở vùng Balamud và Old Tonda của papua New Guinea ( turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987 Griffin, 1988) dẫn theo Lê Đình Khả (1997), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufeld ,1988) và Ulu Kukut (Drus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (kijkar, 1992). Giống lai tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có đặc tính vượt trội so bố mẹ, sinh trưởng nhanh cành nhánh nhỏ thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn Năm 1991 Ciryn pinso và Robetr Nasi đã thấy tai khu Ulukurkut cây keo lai đời F1 có sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của keo lai tai tượng tai 4 h Sabah.
Các tác giả này cũng thấy rằng gỗ của keo lai là trung gian giữa keo tai tương và keo lá tràm co phẩm chất tốt hơn keo tai tượng. Hiện nay trên thế giới keo lai được trồng nhiều ở các quốc gia trên thế giới như Autralia, Papua New Guinea, Indonesia, Malaysia, philippin bởi nó phù hợp với điều kiện sinh thái , cây phát triển nhanh, trồng dễ sống trong một chu kỳ cho một sinh khối lớn hơn các loài cây khác và chất lượng gỗ tốt hơn 2. Trong nước Những nghiên cứu rừng trồng ở Việt Nam Trong những năm gần đây, cấu trúc rừng ở nước ta đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Sở dĩ như vậy vì cấu trúc là cơ sở cho việc định hướng phát triển rừng, đề ra biện pháp lâm sinh hợp lý.
Đào Công Khanh (1996), Bảo Huy (1993) đã căn cứ vào tổ thành loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp lâm sinh. Lê Sáu (1996) dựa vào hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng kết hợp với hệ thống phân loại của Loeschau, chia rừng ở khu vực Kon Hà Nừng thành 6 trạng thái. Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn (Lê Đình Khả, 2006). Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988) ; Gan, E và Sim Boom Liang (1991) các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm.
Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 -5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8 - 9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5 - 6. Bên cạnh đó là sự phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận. Ở Việt Nam cây keo lai trước đây xuất hiện lác đác ở một số nơi ở Nam Bộ đó là Tân Tạo, Trảng Bom , Sông Mây và Ba Vì (Hà Tây), Phú Thọ, Hòa 5 h Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên. ( Lê Đình Khả, 1999) Những cây lai này đã xuất hiện ở rừng keo lai tai tượng với những tỷ lệ khác nhau .Ở các tỉnh Miền Nam là 3-4%, còn ở Ba Vì là 4-5%.
Riêng giống keo lai tại Ba Vì được xác định là Acacia Mangium ( xuất xứ Darwin thuộc Bang Queensland- Australia). Keo lai được phát hiện và khảo nghiện đợt 1 vào năm 1993-1995, đến năm 1996 nghiên cứu giống rừng đã phối hợp với các đơn vị khác tiếp tục nghiên cứu về keo lai. Nghiên cứu này chọn lọc các keo lai trội lai tự nhiên, xây dựng khảo các dòng vô tính tiến hành đánh giá khả năng bột giấy của keo lai cũng như tiến hành khảo nghiện các dòng keo lai được lựa chọn ở các vùng sinh thái khác nhau (Lê Đình Khả, Phạm Văm Tuấn, Nguyễn Văn Thảo và các cộng sự năm 1999) kết quả cho thấy keo lai có ưu thế rõ rệt về sự sinh trưởng so với keo lai lá tràm.