CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề cơ bản về xếp hạng tín nhiệm 1. Khái niệm về xếp hạng tín nhiệm Xếp hạng tín nhiệm (XHTN) hay tiếng anh gọi là “Credit rating” có nhiều cách gọi và dịch khác nhau như là “định mức tín nhiệm”, “định hạng tín nhiệm”, “xếp hạng tín dụng”,. Qua quá trình nghiện cứu, mỗi tổ chức mỗi nhà kinh tế lại đưa ra một khái niệm khác nhau về XHTN cho riêng mình nhưng đa phần đều thể hiện được bản chất và nội dụng cơ bản cảu XHTN Xếp hạng tín nhiệm là thuật ngữ được đưa ra đầu tiên bởi John Moody (1909) trong việc phân tích và đánh giá mức độ tín nhiệm (rủi ro vỡ nợ) của trái doanh nghiệp.
John Moody (1909) đã sử dụng hệ thống 3 chữ cái ABC để xếp hạng 250 loại trái phiếu doanh nghiệp theo mức độ từ cao xuống thấp và đến nay hệ thống nay đã trở thành chuẩn mực quốc tế với hai nhóm xếp hạng trái phiếu đầu tư và xếp hạng trái phiếu đầu cơ. Theo Công ty Moody’s (2019): “Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của một nghĩa vụ nợ riêng lẻ hoặc của chủ thể phát hành dựa trên các kết quả phân tích tín dụng cơ bản và thể hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa đến C”. Theo Standard and Poor’s (2012): “Xếp hạng tín dụng phát hành là một ý kiến dự đoán về uy tín tổng thể của bên có nghĩa vụ. Ý kiến này tập trung vào khả năng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn của bên có nghĩa vụ.” Theo Trần Đắc Sinh (2002): “Xếp hạng tín dụng là việc đưa ra các nhận định hiện tại về mức độ tín nhiệm của nhà phát hành đối với một trách nhiệm tài chính 3 SVTH: Bùi Nguyệt Hà GVHD: Trần Thị Xuân Anh Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng nào đó, hoặc là đánh giá mức độ rủi ro gắn liền với các loại đầu tư khác nhau.
Các đầu tư này có thể dưới dạng chứng khoán như là trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi và giấy nhận nợ hoặc các công cụ cho vay khác như vay và gửi tiền tại ngân hàng, các thương phiếu”. Như vậy, hiểu một cách chung nhất theo các định nghĩa trên, xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá hiện thời một cách khách quan về khả năng và mức độ sẵn sàng trả nợ gốc và lãi của một tổ chức kinh tế đi vay đối với mỗi nghĩa vụ tài chính nhất định trong suốt thời hạn hiệu lực của nghĩa vụ tài chính đó. Vai trò của xếp hạng tín nhiệm Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Hà (2007) cho rằng hoạt động xếp hạng tín nhiệm ra đời, phát triển và ngày càng khẳng định tầm quan trọng không thể thiếu được trong việc phát triển một thị trường vốn an toàn và có hiệu quả thông qua các tín dụng của nó đối với tất cả các đối tượng tham gia thị trường, bao gồm: nhà đầu tư, nhà phát hành, các trung gian tài chính và toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, xếp hạng tín nhiệm sẽ tác động đến các chủ thể tham gia thị trường, cụ thể là: - Đối với nhà đầu tư: Nguyễn Bảo Ngọc (2010) cho rằng: Các nhà đầu tư trước khi quyết định đầu tư vào công cụ hay công ty nào thì vấn đề quan trọng là phải nắm rõ về nó để có được những thông tin cần thiết vì công ty họ dự định đầu tư các nhà đầu tư thường thu thập những thông tin số liệu báo cáo tài chính của công ty có thể đưa ra quyết định chính xác nhất nhằm hạn chế rủi ro trong đầu tư nghe này với hệ thống xếp hạng tín nhiệm các nhà đầu tư có thể có thêm công cụ để giúp họ nhận diện và đánh giá rủi ro tín dụng từ đó so sánh đánh giá mối quan hệ lợi nhuận do giữa các công cụ để tìm ra công cụ có lợi nhất đảm bảo hiệu quả đầu tư và an toàn cho đồng vốn.
Sự thay đổi mức xếp hạng sẽ giúp cá nhà đầu tư điều chỉnh danh mục đầu tư của mình một cách hợp lý trên cơ sở tính toán lại giá trị của danh mục đầu tư và đối chiếu với mục tiêu đầu tư. - Đối với tổ chức phát hành: 4 SVTH: Bùi Nguyệt Hà GVHD: Trần Thị Xuân Anh Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng Hoàng Ngọc Hà (2007) cho rằng, xếp hạng tín nhiệm tạo ra thông tin minh bạch giúp các tổ chức phát hành dễ dàng thuyết phục các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư. Các doanh nghiệp có xếp hạng tín nhiệm cao có thể huy động được vốn với chi phí thấp. Mặt khác, các dự án có độ rủi ro cao và sẵn sàng trả mức lãi cao cũng có thể huy động vốn đầu tư các nhà đầu tư có độ chấp nhận rủi ro cao và có tiềm lực tài chính.
- Đối với trung gian tài chính: Ngân hàng là trung gian tài chính phổ biến. Một mặt là sử dụng kết quả xếp hạng để đầu tư, tư vấn, bảo lãnh phát hành,. Mặt khác, các ngân hàng cũng là đối tượng xếp hạng tín nhiệm với tư cách là người huy động vốn thông qua hình thức tiền gửi của khách hàng. Khách hàng gửi tiền sẽ phân biệt được chất lượng của các ngân hàng thông qua kết quả của xếp hạng tín nhiệm từ đó sẽ đưa ra một mức lãi suất kỳ vọng.
Chính mức lãi suất này cũng là công cụ cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau. - Đối với nền kinh tế: Theo Nguyễn Thị Phương Anh (2012) cho rằng, tại Việt Nam xu hướng cổ phần hóa diễn ra mạnh mẽ, thị trường chứng khoán ra đời và phát triển dẫn đến nhu cầu hình thành và phát triển xếp hạng tín nhiệm. Xếp hạng tín nhiệm giúp tạo môi trường công bằng, khách quan trong quan hệ tín dụng, góp phần lành mạnh cho sự phát triển của nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro tài chính trong hệ thống ngân hàng, giúp doanh nghiệp từng bước nâng giá trị thương hiệu, năng lực quản lí. Xếp hạng tín nhiệm có một vai trò quan trọng góp phần cho sự phát triển kinh tế, thông qua việc mở rộng tiếp cân đối với thị trường tín dụng, giảm giá thành tín dụng, giảm rủi ro đối với việc không trả nợ được.
Đối với người tiêu dùng, xếp hạng tín nhiệm là yếu tố chủ chốt đối với tín nhiệm tiêu dùng vì giúp họ dễ dành tiếp cận được tín dụng tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, xếp hạng tín nhiệm giúp tăng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm giá thành và quản lí rủi ro tốt hơn. Đối với cá tổ chức tín dụng, xếp hạng tín nhiệm giúp họ ra quyết định cho vay nhanh hơn và chính xác hơn. Kết quả xếp hạng tín nhiệm trợ giúp đắc lực cho dự đoán rủi ro hiệu quả hơn.
5 SVTH: Bùi Nguyệt Hà GVHD: Trần Thị Xuân Anh Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng Đối với Ngân hàng nhà nước, kết quả xếp hạng doanh nghiệp cho biết mức độ rủi ro theo từng ngành, lĩnh vực kinh tế, từ đó có chính sách tiền tệ, tín dụng thích hợp. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, thông tin xếp hạng doanh nghiệp giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá, phân loại được các đối tượng doanh nghiệp thuộc quản lý của mình, có cơ sở thông tin để đánh giá và so sánh theo ngành kinh tế, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp. Thông tin xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là nguồn thông tin tốt giúp cho việc đánh giá doanh nghiệp trong quá tình cổ phần hóa và tham gia thị trường chứng khoán. Do đó, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm chính là nơi cung cấp những thông tin chính xá tạo nên sự thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Nguyễn Thị Phương Thanh, 2012).
Tuy nhiên, xếp hạng tín nhiệm đơn thuần chỉ là ý kiến đánh giá dựa trên các nhân tố rủi ro chứ không phải là một khuyến nghị, chỉ dẫn để mua, bán hoặc giữ lại một chứng khoán hoặc một khoản đầu tư nào đó. Mức xếp hạng XHTN cao không có nghĩa là khoản đầu tư này tốt hơn so với khoản đầu tư có mức XHTN thấp hơn. Và mức xếp hạng thấp không có nghĩa là không có bất cứ tiềm năng nào cho từ khoản đầu tư này. Kết quả xếp hạng của XHTN phản ánh mức độ tín nhiệm tại thời điểm hiện tại và quá khứ trước đó, nên không đảm bảo tuyệt đối chất lượng tín dụng và rủi ro trong tương lai, khi những yếu tố về môi trường vĩ mô đã thay đổi.
Nội dung xếp hạng tín nhiệm Xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng. Xếp hạng tín nhiệm không phải là lời khuyên tài trợ, đầu tư, mua, bán hay nắm giữ trái phiếu, các công cụ nợ. Chúng chỉ là một trong những nhân tố mà nhà đầu tư và các nhà tài trợ nên tham khảo trước khi quyết định đầu tư, tài trợ, Nguyễn Bảo Ngọc (2010). Xếp hạng tín nhiệm không phải là chỉ dẫn về tính thanh khoản của một chứng khoán hay đo lường giá trị của nó trên thị trường.
XHTN không đảm bảo tuyệt đối chất lượng tín dụng và rủi ro tín dụng trong tương lai. 6 SVTH: Bùi Nguyệt Hà GVHD: Trần Thị Xuân Anh Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng Xếp hạng tín nhiệm là một tiêu chuẩn đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu tài chính phản ánh khả năng thanh toán hay khả năng chi trả của doanh nghiệp, cơ cấu vốn và khả năng sinh lời. Bên cạnh các chỉ tiêu tài chính còn có các chỉ tiêu phi tài chính: trình độ, năng lực quản lí, kinh nghiệm điều hành,. Các chỉ tiêu này sẽ được chấm điểm trên cơ sở so sánh với các chỉ tiêu trung bình ngành.
Kết quả đánh giá sẽ được đưa ra với các cấp độ khác nhau từ mức xếp hạng A đến C, cụ thể: Doanh nghiệp được xếp hạng A là tốt nhất, có khả năng thanh toán, khả năng trả nợ tốt, khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động cao, hoàn toàn có thể mở rộng tín dụng. Doanh nghiệp được xếp hạng B là doanh nghiệp nên hạn chế tín dụng, đồng thời kiểm soát chặt chẽ, thu hồi nợ cũ. Doanh nghiệp xếp hạng C là doanh nghiệp không thể cho vay, khẩn trương thu hồi nợ cũ, đồng thời xem xét khả năng thanh hay phát mại tài sản đảm bảo, thu hồi nợ.